Phần lớn các đội kỹ thuật bắt đầu tìm hiểu việc mua điện tái tạo tại Thái Lan đều dừng lại ở cùng một chỗ. Đổi hợp đồng thì điện trở thành điện xanh. Nhưng công ty mẹ và khách hàng không yêu cầu bạn chứng minh đã mua điện xanh, mà yêu cầu chứng minh đã sử dụng điện xanh. Năm 2026, Thái Lan đã có đủ cơ chế để chứng minh điều đó. Bài viết này trình bày ba nhóm phương án mua điện mà nhà máy có thể chọn, và dữ liệu đo đếm điện năng biến hợp đồng thành bằng chứng.
Nhà máy tại Thái Lan có thêm lựa chọn mua điện tái tạo trong năm 2026
Bức tranh pháp lý trước tiên
Khung điện xanh của Thái Lan bắt nguồn từ nghị quyết cuộc họp Hội đồng Chính sách Năng lượng Quốc gia lần thứ 7/2565 ngày 7 tháng 11 năm 2022, sau đó Ủy ban Điều tiết Năng lượng (ERC) xây dựng các quy tắc chi tiết. Theo trang chính thức của ERC, khung này gồm hai cấp. Biểu giá UGT1 đã được công bố cho năm dịch vụ 2568 và 2569, tương ứng với 2025 và 2026. UGT2 được phê duyệt theo nghị quyết ERC số 13/2569 ngày 1 tháng 4 năm 2026.
Cộng thêm phương án mua riêng chứng chỉ I-REC và lắp điện mặt trời áp mái để tự dùng, nhà máy thực tế có ba nhóm lựa chọn. Ba nhóm này không loại trừ nhau. Trên thực tế người ta kết hợp chúng, dùng nhóm này bù cho phần thiếu của nhóm kia.
Về khía cạnh giảm chi phí điện của nhà máy, chúng tôi đã trình bày riêng trong bài vì sao chỉ đo điện thôi thì hóa đơn tiền điện vẫn không giảm. Bài viết này tiếp nối từ điểm đó, bàn về việc giải thích điện của bạn đến từ đâu.

UGT1 là cửa vào với hợp đồng 1 năm và không được chọn nguồn
UGT1 cho phép mua điện tái tạo mà không chỉ định nhà máy phát điện. Theo trang chính thức của UGT do EGAT vận hành, nguồn cung đến từ 7 nhà máy thủy điện của EGAT, sản lượng khoảng 2,000 GWh mỗi năm, tương đương khoảng 2 triệu chứng chỉ mỗi năm. Hợp đồng có thời hạn 1 năm và mọi loại khách hàng dùng điện đều có thể đăng ký.
Cách tính giá là biểu giá điện thông thường cộng thêm phần phụ phí. Với năm dịch vụ 2569, ERC đã lấy ý kiến công khai từ ngày 7 đến ngày 19 tháng 1 năm 2026, và Cơ quan Điện lực Thủ đô (MEA) ra thông báo đề ngày 12 tháng 3 năm 2026 ấn định mức phụ phí 0.0375 baht mỗi đơn vị, đồng thời mở đăng ký từ ngày 16 tháng 3 đến ngày 10 tháng 4 năm 2026. Cũng thông báo đó xác nhận điện được cung cấp đi kèm chứng chỉ năng lượng tái tạo theo chuẩn I-REC.
Báo chí năng lượng Thái Lan đưa tin mức phụ phí 0.0375 baht này thấp hơn năm trước 37 phần trăm. Với nhà máy mua 12,000,000 kWh mỗi năm, phần cộng thêm là 450,000 baht. Xét như một cửa vào thì đây là mức rất rẻ.
Tuy nhiên mức sử dụng thực tế còn rất mỏng. Nhật báo kinh tế Thansettakij đưa tin ngày 19 tháng 4 năm 2026 rằng tuy 7 nhà máy thủy điện có thể cung cấp 1,329 triệu đơn vị mỗi năm, lượng sử dụng từ giữa năm 2025 mới chỉ đạt 41 doanh nghiệp và khoảng 142 triệu đơn vị. Nguồn thì có, chỉ là chưa được dùng.
UGT2 cho phép chỉ định nguồn nhưng ràng buộc 10 năm
UGT2 cho phép chỉ định nhà máy phát điện. Trang chính thức của UGT liệt kê 245 nhà máy điện mặt trời, điện gió và điện mặt trời kết hợp pin lưu trữ, với tổng sản lượng khoảng 12,000 GWh mỗi năm cho hai danh mục A và B khi tất cả đi vào vận hành thương mại. Hợp đồng kéo dài 10 năm, và đối tượng giới hạn ở nhóm biểu giá loại 4 là khách hàng lớn và loại 5 là kinh doanh đặc thù.
Về giá, Thansettakij đưa tin ngày 19 tháng 4 năm 2026 rằng UGT2 áp dụng cơ cấu giá cố định với phí quản lý 5 satang tức 0.05 baht mỗi đơn vị, và thời hạn hợp đồng được đưa tin nằm trong khoảng 10 đến 25 năm, khiến con số 10 năm trên trang chính thức của UGT trở thành cận dưới. Về đơn giá, nhiều cơ quan báo chí đưa con số khoảng 4.56 baht cho danh mục A, gồm các nhà máy vận hành thương mại trong giai đoạn 2568 đến 2570.
Ý nghĩa thực tiễn của UGT2 không nằm ở mức giá mà ở thời hạn hợp đồng. 10 năm nghĩa là 10 năm giữ một đơn giá cố định tách khỏi biến động của phí điều chỉnh nhiên liệu trong biểu giá thông thường. Nếu chỉ đánh giá như một khoản chi phí tăng thêm, bạn sẽ đi tới kết luận sai.
Phương án mua riêng chứng chỉ I-REC
Bạn cũng có thể mua riêng chứng chỉ. Tại Thái Lan, đơn vị phát hành là EGAT, được International Tracking Standard Foundation công nhận là tổ chức phát hành trong nước theo mã I-REC(E). Nguồn phát đủ điều kiện gồm điện mặt trời, điện gió, thủy điện, sinh khối, khí sinh học và địa nhiệt.
Khác biệt quyết định giữa UGT và mua riêng I-REC là chứng chỉ có gắn sẵn với một lượng điện hay không. UGT dùng phương thức gọi là Bundled REC, trong đó việc giao điện vật lý và chứng chỉ đi cùng nhau và xuất hiện thành các dòng trên cùng một hóa đơn tiền điện. Chứng chỉ mua riêng đến từ một kênh hoàn toàn khác và nằm trong một sổ đăng ký khác. Chính khác biệt này quyết định độ khó của việc đối chiếu được nói tới bên dưới.
Direct PPA chưa phải lựa chọn của nhà máy
Chương trình thí điểm Direct PPA được Hội đồng Chính sách Năng lượng Quốc gia thông qua ngày 25 tháng 6 năm 2024 thường được mô tả như thời điểm nhà máy được tự chọn nguồn điện. Đọc kỹ điều kiện thì phạm vi hẹp hơn nhiều. Theo bình luận do hãng luật Nagashima Ohno and Tsunematsu công bố ngày 22 tháng 12 năm 2025, chương trình có hạn ngạch 2,000 MW và chỉ dành cho các trung tâm dữ liệu có giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư của BOI. Ngoài ra còn các điều kiện như phụ tải nền công nghệ thông tin tối thiểu 50 MW mỗi tòa nhà, chính sách của công ty mẹ yêu cầu 100 phần trăm năng lượng tái tạo, và cơ sở chưa được đưa vào vận hành.
Nhà máy sản xuất thông thường vì vậy chưa vào được hạn ngạch này. Các phương án nhà máy thực sự dùng được trong năm 2026 là UGT1, UGT2, điện mặt trời áp mái tự dùng và I-REC mua riêng, trong đó chỉ UGT và điện mặt trời tự dùng mới thay đổi bản thân dòng điện.
Mua được không đồng nghĩa với chứng minh được
Phương pháp theo vị trí và theo thị trường là hai phép tính khác nhau
Hiệu quả của việc mua điện tái tạo thể hiện trong hạch toán Scope 2. Điều cần hiểu là Scope 2 có hai phương pháp tính, và về nguyên tắc phải báo cáo cả hai.
Phương pháp theo vị trí dùng hệ số phát thải trung bình của lưới điện khu vực, tại Thái Lan là hệ số do Tổ chức Quản lý Khí nhà kính Thái Lan công bố. Với phương pháp này, nguồn điện bạn mua không quan trọng. Tiêu thụ cùng số kWh thì báo cáo cùng lượng phát thải. Đổi sang biểu giá điện xanh không làm con số này dịch chuyển một gram nào.
Phương pháp theo thị trường dùng hệ số phát thải xuất phát từ hợp đồng và chứng chỉ. Nếu nắm giữ chứng chỉ, bạn áp hệ số phát thải bằng không cho lượng điện tương ứng. Hiệu quả của việc mua điện tái tạo chỉ xuất hiện ở đây.
Đổi hợp đồng mà không hiểu cấu trúc hai tầng này thì báo cáo gửi lên sẽ là nhà máy đã chuyển sang năng lượng tái tạo nhưng CO2 không giảm. Không phải là không giảm, mà là con số thể hiện phần giảm chưa được lập. Chúng tôi trình bày phần tính toán nền tảng trong bài trực quan hóa phát thải CO2 và tính Scope 1 với Scope 2 tại nhà máy ở Thái Lan.
Chứng chỉ chỉ có ý nghĩa khi gắn với một lượng điện
Để tuyên bố hệ số phát thải bằng không theo phương pháp thị trường, số lượng chứng chỉ phải tương ứng với lượng điện bạn áp vào. Một chứng chỉ I-REC tương ứng một MWh. Một cơ sở tiêu thụ 6,000,000 kWh mỗi năm cần 6,000 chứng chỉ để phủ toàn bộ phụ tải.
Vấn đề là ai duy trì sự tương ứng đó. Về phía tiêu thụ, nhà máy thường chỉ có hóa đơn điện hàng tháng, và nhiều lắm là số liệu từ các đồng hồ phụ trong hàng rào. Về phía chứng chỉ, thời điểm mua và số lượng nằm trong một hệ thống hoàn toàn khác. Tại phần lớn cơ sở, hai bên được đối chiếu mỗi năm một lần, bằng tay, trên bảng tính.
Có 3 nhà máy thì phát sinh thêm bài toán phân bổ
Doanh nghiệp Nhật Bản có nhiều nhà máy tại Thái Lan còn thêm một lớp nữa. Nếu chứng chỉ được mua tập trung rồi phân bổ cho từng cơ sở, căn cứ phân bổ phải là lượng tiêu thụ thực tế, nếu không sẽ không bảo vệ được.
Bảng dưới đây là mô hình dùng xuyên suốt bài viết. Đây không phải số liệu của một doanh nghiệp có thật.
| Cơ sở | Điện mua mỗi năm | Tỷ lệ tiêu thụ | Số I-REC cần có |
|---|---|---|---|
| Cơ sở A | 6,000,000 kWh | 3 | 6,000 |
| Cơ sở B | 4,000,000 kWh | 2 | 4,000 |
| Cơ sở C | 2,000,000 kWh | 1 | 2,000 |
| Tổng | 12,000,000 kWh | 6 | 12,000 |
Tỷ lệ tiêu thụ trong bảng trở thành tỷ lệ phân bổ chứng chỉ. Nhưng trên thực tế luôn có một trong 3 cơ sở làm vỡ giả định. Sản lượng tăng kéo theo tiêu thụ tăng. Một mạch đồng hồ phụ hỏng nên không có số liệu thực. Cơ sở C hóa ra không thuộc loại 4 nên không vào được UGT2. Bất kỳ tình huống nào trong số đó cũng làm hỏng phân bổ.

Ba phép kiểm tra ngăn tính trùng
Câu hỏi khắt khe nhất trong thế giới chứng chỉ là có hai doanh nghiệp cùng tuyên bố về một MWh hay không. Thực tế có ba phép kiểm tra.
Thứ nhất, kỳ phát điện và kỳ tiêu thụ có nằm trong cùng một khung thời gian không. Chứng chỉ ghi lại kỳ phát điện, và chứng chỉ vắt qua hai năm báo cáo về nguyên tắc không dùng được.
Thứ hai, ranh giới địa lý có khớp không. Chứng chỉ phát hành trên lưới điện Thái Lan về nguyên tắc dùng cho tiêu thụ tại Thái Lan.
Thứ ba, chứng chỉ đã được thu hồi trong sổ đăng ký chưa. Sau khi dùng, chứng chỉ bị thu hồi và không bao giờ dùng lại được. Đưa vào báo cáo một chứng chỉ đã mua nhưng chưa thu hồi thì kiểm toán viên sẽ nêu vấn đề.
Cả ba phép kiểm tra đều không thể xác nhận nếu không đối chiếu dữ liệu tiêu thụ mà nhà máy đang giữ với thuộc tính của chứng chỉ. Đơn vị đối chiếu càng thô thì việc kiểm tra càng mang tính hình thức.
Sửa đổi GHG Protocol sẽ quyết định độ mịn của phép đo
Từ khớp theo năm sang khớp theo giờ
Tất cả những gì nói ở trên đều dựa trên Hướng dẫn Scope 2 bản năm 2015. Giả định đó đang thay đổi.
Theo blog chính thức của GHG Protocol, nhóm công tác kỹ thuật về Scope 2 đã đề xuất ba thay đổi cho phương pháp theo thị trường.
Thứ nhất là khớp theo giờ. Hiện nay chỉ cần khớp chứng chỉ với tiêu thụ theo năm là đủ. Theo đề xuất thì phải khớp theo từng giờ.
Thứ hai là yêu cầu về khả năng truyền tải. Thuộc tính năng lượng phải đến từ vùng lưới điện có thể đưa điện tới điểm tiêu thụ về mặt vật lý.
Thứ ba là phân bổ dịch vụ cung cấp tiêu chuẩn. Mỗi đơn vị báo cáo chỉ được tuyên bố phần tương ứng của mình, và các thuộc tính không có ai tuyên bố sẽ không dùng được cho tuyên bố tự nguyện theo thị trường.
Việc công bố Tiêu chuẩn Scope 2 sửa đổi dự kiến vào cuối năm 2027, và sẽ áp dụng dần trong nhiều năm sau đó.
Điều gì xảy ra với nhà máy chỉ có hóa đơn hàng tháng
Khi khớp theo giờ bắt đầu có hiệu lực, giả định phía nhà máy thay đổi hoàn toàn.
Khớp theo năm cần một giá trị duy nhất là tổng tiêu thụ cả năm. Cộng 12 hóa đơn hàng tháng là xong. Khớp theo giờ cần một chuỗi thời gian tiêu thụ theo giờ. Mỗi ngày 24 điểm, mỗi năm 8,760 điểm. Không thể dựng từ hóa đơn.
Xuống tới độ mịn đó thì luôn lộ ra một điểm không khớp, giữa chứng chỉ có nguồn gốc điện mặt trời và tiêu thụ ban đêm. Lượng chứng chỉ trông có vẻ đủ khi tính trung bình cả năm sẽ vỡ ra thành phần dư vào ban ngày và phần thiếu vào ban đêm.
Để dễ hình dung, hãy chia 1 ngày thành 6 khối 4 giờ. Điện mặt trời trên thực tế chỉ phủ được 2 khối. Nhà máy chạy 3 ca liên tục 24 giờ sẽ còn 4 khối mà chứng chỉ từ điện mặt trời không khớp vào được. Thứ vốn cân bằng khi cộng cả năm sẽ hiện ra thành 4 lỗ hổng ở cấp khối thời gian.

Lưu ở chu kỳ nào và trong bao lâu
Câu trả lời cho đội kỹ thuật nhà máy rất đơn giản. Hãy bắt đầu thu thập và lưu giữ dữ liệu tiêu thụ theo giờ trước khi quy định khớp theo giờ có hiệu lực.
Tại Thái Lan, việc đo đếm ở điểm nhận điện do đồng hồ mua bán điện của ngành điện thực hiện. Dữ liệu đó chỉ quay về nhà máy dưới dạng hóa đơn. Muốn tự giữ giá trị theo giờ, bạn phải lắp đồng hồ của mình tại điểm nhận điện, hoặc lấy dữ liệu từ thiết bị giám sát công suất cực đại đã có sẵn.
Việc chọn độ mịn có một quy tắc đơn giản. Phí công suất tại Thái Lan tính theo công suất trung bình 15 phút, nên cơ sở nào đã giám sát công suất thì đã có sẵn giá trị 15 phút. Từ đó có thể tổng hợp thành giá trị theo giờ, nhưng chiều ngược lại thì không. Nguyên tắc là thu ở mức mịn rồi dựng mức thô.
Thời hạn lưu trữ cũng cần quyết định. Báo cáo chứng chỉ theo năm, và khi tính đến thẩm định của bên thứ ba cùng khả năng khách hàng rà soát ngược khi đánh giá, mức tối thiểu là 3 năm và 5 năm thì tốt hơn. Lưu giá trị 15 phút trong 5 năm cho tổng cộng 15 điểm, gồm 3 điểm nhận điện và 12 phụ tải chính, số dòng sẽ là 15 điểm nhân 35,040 điểm nhân 5 năm, khoảng 2,630,000 dòng. Không đáng kể với một cơ sở dữ liệu chuỗi thời gian, nhưng bảng tính thì không kham nổi.
Riêng phần thiết kế điểm đo, chúng tôi trình bày trong bài chi phí và các bước triển khai hệ thống giám sát năng lượng cho nhà máy tại Thái Lan.
Mô hình chi phí
Nêu rõ giả định
Phần dưới đây là một mô hình, không phải báo giá. Hãy coi mọi con số đều sẽ thay đổi tại cơ sở của bạn.
Giả định một nhà sản xuất Nhật Bản có 3 nhà máy tại Thái Lan. Tổng điện mua mỗi năm là 12,000,000 kWh, chia thành 6,000,000 kWh tại cơ sở A, 4,000,000 kWh tại cơ sở B và 2,000,000 kWh tại cơ sở C. Giả định đơn giá bình quân hiện tại là 4.20 baht mỗi kWh. Phụ phí UGT1 lấy theo mức 0.0375 baht mỗi kWh do MEA công bố, và đơn giá UGT2 lấy theo mức 4.56 baht mỗi kWh mà báo chí đưa tin.
Ba kịch bản mua điện
| Kịch bản | Đầu tư ban đầu | Chi phí tăng thêm mỗi năm | Thời hạn hợp đồng | Chỉ định nguồn |
|---|---|---|---|---|
| 1. Dùng UGT1 cho toàn bộ | không | 450,000 baht | 1 năm | không |
| 2. Dùng UGT2 cho toàn bộ | không | 4,320,000 baht | 10 năm | có |
| 3. Điện mặt trời tự dùng kết hợp UGT1 | 25,000,000 baht | giảm 5,482,500 baht | không áp dụng | chỉ phần tự dùng |
Sau đây là cách tính từng dòng.
Kịch bản 1 là 12,000,000 kWh nhân 0.0375 baht, bằng 450,000 baht. Kịch bản 2 lấy chênh lệch 0.36 baht so với đơn giá hiện tại nhân 12,000,000 kWh, bằng 4,320,000 baht. Kịch bản 3 lắp 1,000 kWp trên mái cơ sở A, giả định sản lượng tại Thái Lan là 1,400 kWh mỗi kWp mỗi năm, cho 1,400,000 kWh tự dùng, tiết kiệm 1,400,000 kWh nhân 4.20 baht bằng 5,880,000 baht, và áp UGT1 cho 10,600,000 kWh còn lại là 397,500 baht. Lợi ích ròng là 5,482,500 baht mỗi năm, và thời gian hoàn vốn đơn giản của khoản đầu tư 25,000,000 baht là khoảng 4.6 năm. Còn việc giàn pin có phát đúng như kế hoạch hay không lại là chuyện khác, được trình bày trong bài bốn điểm mù khiến bạn không nhận ra sản lượng điện mặt trời đang giảm.
Chi phí chứng minh là một khoản riêng
Tất cả những gì nói ở trên là về bản thân dòng điện. Chi phí để tuyên bố trở nên chứng minh được là một khoản riêng. Chia theo lớp sẽ giúp không bỏ sót.
| Lớp | Nội dung | Ban đầu | Mỗi năm |
|---|---|---|---|
| 1. Đo đếm | 15 đồng hồ, gồm 3 điểm nhận điện và 12 phụ tải chính | 525,000 baht | không |
| 2. Thu thập | 3 bộ gateway và truyền thông giữa các cơ sở | 450,000 baht | 30,000 baht |
| 3. Lưu trữ | cơ sở dữ liệu chuỗi thời gian và lưu 5 năm | 200,000 baht | 180,000 baht |
| 4. Đối chiếu | khớp sổ chứng chỉ với giá trị đo, quy tắc phân bổ | 600,000 baht | 120,000 baht |
| 5. Báo cáo | tính theo hai phương pháp và hỗ trợ thẩm định bên thứ ba | không | 350,000 baht |
| Tổng | 1,775,000 baht | 680,000 baht |
Chọn kịch bản 1 thì bản thân dòng điện tốn thêm 450,000 baht mỗi năm, trong khi việc chứng minh tốn 1,775,000 baht ban đầu và 680,000 baht mỗi năm. Chứng minh đắt hơn điện. Đó không phải điều bất thường mà là hệ quả trực tiếp của việc phụ phí UGT1 được đặt rất thấp.
Nhìn theo hướng khác, các lớp 1 đến 3 chính là thành phần của một hệ thống giám sát năng lượng và dùng chung được với việc giảm chi phí điện cùng vận hành ISO 50001. Nếu đầu tư chỉ để lấy chứng chỉ thì không giải thích được bài toán hoàn vốn. Nhưng với cơ sở đã đẩy mạnh trực quan hóa dữ liệu điện, phần tăng thêm chỉ còn lớp 4 và lớp 5. Cách triển khai trong khuôn khổ ISO 50001 được tóm tắt trong bài ISO 50001 và quản lý năng lượng bắt đầu hoàn vốn từ việc nhìn thấy dữ liệu điện.
Bốn điểm mà các cơ sở tại Thái Lan thực sự vấp phải
Không ai biết cơ sở thuộc nhóm biểu giá nào
UGT2 áp dụng cho loại 4 và loại 5. Nhưng hỏi đầu mối phía nhà máy cơ sở thuộc loại nào thì rất ít người trả lời được ngay. Loại biểu giá có ghi trên hóa đơn tiền điện, nhưng hóa đơn do bộ phận kế toán xử lý và không bao giờ quay lại nhà máy. Nếu định cân nhắc UGT2, việc đầu tiên không phải so sánh nhà cung cấp mà là mở đọc một tờ hóa đơn.
Cơ sở nhận điện qua khu công nghiệp đi theo con đường khác
Nhiều nhà máy Nhật Bản tại Thái Lan nằm trong khu công nghiệp và nhận điện qua đơn vị vận hành khu thay vì trực tiếp từ ngành điện. Khi đó phát sinh câu hỏi ai là đối tác hợp đồng của UGT. Nếu khu công nghiệp nhận điện tập trung, nhà máy thuê đất có thể không tự đăng ký được. Cách xử lý khác nhau theo từng khu, nên chỉ đọc tài liệu cơ chế thì không kết luận được. Phải hỏi đơn vị vận hành trước.
Lịch của công ty mẹ lệch với cửa sổ đăng ký
Đăng ký UGT1 của MEA cho năm 2026 mở từ ngày 16 tháng 3 đến ngày 10 tháng 4. Mỗi năm một lần, trong khoảng thời gian giới hạn. Trong khi đó ngân sách và chính sách phát triển bền vững của công ty mẹ tại Nhật Bản thường chốt trong khoảng tháng 3 đến tháng 4. Chờ công ty mẹ thì lỡ cửa sổ đăng ký của năm đó. Tính ngược lại, đội tại chỗ cần ở trạng thái quyết định được từ quý bốn của năm trước.
Chứng chỉ mua rồi nhưng không ai thu hồi
Việc thu hồi chứng chỉ đã mua trong sổ đăng ký thường nằm ngoài phạm vi công việc của bộ phận mua hàng. Mua xong và thanh toán xong thì coi như hết việc, rồi cuối năm đến mà chứng chỉ vẫn chưa được thu hồi. Đưa chứng chỉ chưa thu hồi vào báo cáo là mở đường cho phát hiện về tính trùng. Hãy quyết định ai thu hồi và thu hồi khi nào ngay tại thời điểm mua.
Cách triển khai
Năm bước
Bước một là chốt đích đến của báo cáo. Báo cáo tích hợp của công ty mẹ, khảo sát nhà cung cấp của khách hàng và các sáng kiến như RE100 đòi hỏi loại chứng chỉ và độ mịn khác nhau. Bắt đầu mua trước khi chốt đích đến thì cuối cùng sẽ ôm những chứng chỉ không dùng được.
Bước hai là kiểm kê dữ liệu tiêu thụ hiện có. Có bao nhiêu điểm nhận điện, ngoài hóa đơn hàng tháng còn thu được gì, có thiết bị giám sát công suất cực đại không, và giá trị của nó có được lưu lại không. Phát hiện ở bước này rằng đã có sẵn giá trị 15 phút sẽ rút ngắn đáng kể mọi việc phía sau.
Bước ba là chọn phương án mua điện. Nhóm biểu giá loại 4 hay loại 5 quyết định có vào được UGT2 hay không, còn khả năng chịu tải của mái và diện tích mái quyết định trần của phần tự dùng. Cả hai đều là ràng buộc kỹ thuật nên cần chốt trước.
Bước bốn là dựng cơ chế đối chiếu. Giá trị đo và sổ chứng chỉ phải khớp được theo cơ sở và theo kỳ. Bước này hay bị hoãn nhất và bị chất vấn nhiều nhất khi đánh giá.
Bước năm là chạy song song hai phép tính. Xuất số liệu theo vị trí và theo thị trường hàng tháng, để chênh lệch giữa chúng giải thích được là hiệu quả của việc mua điện.
Năm điểm cần kiểm khi chọn hệ thống
Độ mịn thu thập phải từ 15 phút trở xuống. Sản phẩm cố định ở 1 giờ có thể đáp ứng khớp theo giờ trong tương lai nhưng không dùng được để phân tích phí công suất tại Thái Lan.
Sổ chứng chỉ phải đối chiếu được với dữ liệu tiêu thụ trên cùng một màn hình. Quản lý ở hai hệ thống riêng thì việc đối chiếu quay về thao tác tay trên bảng tính.
Quy tắc phân bổ theo cơ sở phải nằm ở phần cấu hình. Nếu nhúng trong mã nguồn thì mỗi lần cơ cấu cơ sở thay đổi lại phải sửa hệ thống.
Phải xuất được cả kết quả theo vị trí và theo thị trường. Sản phẩm chỉ xuất được một loại sẽ hỏng việc ở bước cuối của báo cáo.
Phải tính lại được dữ liệu quá khứ. Hệ số phát thải được cập nhật về sau, và nếu không tính lại được các năm trước thì so sánh theo thời gian sẽ vỡ.
Ai chịu trách nhiệm
Việc này không kết thúc trong phạm vi bộ phận công nghệ thông tin của nhà máy, cũng không kết thúc trong phạm vi bộ phận phát triển bền vững. Lắp đồng hồ thuộc về bảo trì điện, xác nhận nhóm biểu giá thuộc về hành chính hoặc kế toán, mua chứng chỉ thuộc về mua hàng, và báo cáo thuộc về bộ phận phát triển bền vững tại công ty mẹ.
Cách làm khả thi là để phía nhà máy hoàn thành bước hai trước, rồi bước vào thảo luận với công ty mẹ cùng một câu duy nhất, rằng cơ sở đã có sẵn giá trị 15 phút hay chưa. Chỉ một câu đó thôi cũng đủ thay đổi độ dài của cuộc thảo luận.
Câu hỏi thường gặp
Nên chọn UGT1 hay UGT2
Tùy vào mức độ chứng minh đang bị yêu cầu. Nếu có chứng chỉ là đủ thì vào bằng UGT1 rồi rà soát hàng năm là con đường rủi ro thấp. Nếu khách hàng hoặc công ty mẹ chỉ định loại nguồn phát, hoặc nếu một đơn giá cố định dài hạn có giá trị, thì câu trả lời là UGT2. Cơ sở không thuộc loại 4 hay loại 5 thì không vào được UGT2 ngay từ đầu, nên câu hỏi này không phát sinh.
Mua riêng I-REC có tuyên bố được 100 phần trăm năng lượng tái tạo không
Nếu lượng chứng chỉ phủ được lượng tiêu thụ thì tuyên bố được theo Scope 2 phương pháp thị trường. Nhưng hãy kiểm tra quy tắc của nơi nhận báo cáo trước. Một số sáng kiến áp thêm điều kiện về sự trùng khớp giữa kỳ phát hành và kỳ tiêu thụ, về khu vực phát hành, và về năm vận hành của nhà máy phát điện. Biết điều kiện sau khi mua thì phải mua lại.
Scope 2 có thể chỉ báo cáo theo phương pháp thị trường không
Về nguyên tắc là cả hai. Con số theo vị trí dùng hệ số trung bình của lưới và không phản ứng với việc mua điện, còn con số theo thị trường phản ứng với hợp đồng và chứng chỉ. Chỉ công bố một loại thì không đọc được thực chất của phần giảm. Ngay cả khi công ty mẹ chỉ nhận một định dạng, nội bộ vẫn nên giữ cả hai.
Điện mặt trời tự dùng có cần chứng chỉ không
Phần tự phát và tự dùng nhìn chung được coi là năng lượng tái tạo mà không cần chứng chỉ. Ngoại lệ là khi sản lượng đó được bán lên lưới, hoặc khi chứng chỉ đã được phát hành từ sản lượng đó và bán cho bên thứ ba. Thứ đã bán thuộc về người khác. Không có số liệu đo sản lượng thực tế thì không tách được phần này.
Direct PPA có mở cho nhà máy không
Chương trình thí điểm tính đến năm 2026 giới hạn ở các trung tâm dữ liệu lớn được BOI ưu đãi. Việc mở rộng sang sản xuất thuộc giai đoạn thiết kế cơ chế tiếp theo và phụ thuộc vào việc hoàn thiện quy tắc tiếp cận bên thứ ba. Không nên đưa vào kế hoạch hiện tại.
Để chuẩn bị cho khớp theo giờ thì nên lưu ở chu kỳ nào
15 phút. Phí công suất tại Thái Lan tính theo công suất trung bình 15 phút, nên cơ sở nào có thiết bị giám sát công suất thì đã sẵn giá trị đó. Từ giá trị 15 phút có thể tổng hợp thành giá trị theo giờ, nhưng chiều ngược lại thì không. Về thời hạn lưu trữ, 5 năm là mục tiêu hợp lý khi tính đến thẩm định bên thứ ba và đánh giá của khách hàng.
Kết luận
Đến năm 2026, các phương án mua điện tái tạo của Thái Lan đã đầy đủ ở mức thực thi. UGT1 cung cấp khoảng 2,000 GWh thủy điện mỗi năm với hợp đồng 1 năm và phụ phí 0.0375 baht mỗi kWh. UGT2 cung cấp 245 nhà máy điện mặt trời và điện gió với khoảng 12,000 GWh mỗi năm theo hợp đồng 10 năm. Cả hai đều đi kèm chứng chỉ I-REC. Direct PPA hiện vẫn là địa hạt của trung tâm dữ liệu, nên tổ hợp thực tế của nhà máy là UGT, điện mặt trời tự dùng và I-REC cho phần còn thiếu.
Tuy vậy, chỉ đổi cách mua điện thì con số trong báo cáo không dịch chuyển. Thứ dịch chuyển chỉ là Scope 2 theo phương pháp thị trường, và phép tính đó cần chứng chỉ khớp với số kWh đã tiêu thụ. Sau đó bản sửa đổi GHG Protocol sẽ dời đơn vị khớp từ năm sang giờ. Thứ cần chuẩn bị vì thế không phải một hợp đồng mới, mà là việc lưu giữ những giá trị 15 phút mà bạn nhiều khả năng đã tạo ra, ở dạng đối chiếu được với sổ chứng chỉ.
Hợp đồng có thể đổi trong vài tháng. Dữ liệu đo đếm quá khứ thì không tạo lại được. Nếu chờ tiêu chuẩn sửa đổi ra mắt cuối năm 2027 rồi mới bắt đầu đo, phần quá khứ dùng để so sánh sẽ trống rỗng. Thứ tự đúng là đo trước, hợp đồng sau.
TOMAS TECH đã đồng hành cùng các nhà máy Nhật Bản tại Thái Lan và ASEAN trong việc khai thác dữ liệu hiện trường, thông qua PEGASUS và các hệ thống quản lý sản xuất cùng quản lý năng lượng khác. Quyết định đặt điểm đo ở đâu, thu ở chu kỳ nào và lưu trong bao nhiêu năm ảnh hưởng tới cả việc giảm chi phí điện lẫn việc báo cáo CO2. Chúng tôi sẵn sàng bắt đầu từ trước bước so sánh sản phẩm, tức là từ bước kiểm kê xem hôm nay thu được gì và chưa thu được gì. Liên hệ với chúng tôi qua trang liên hệ.
Tài liệu tham khảo
- Thông báo của MEA về việc mở đăng ký UGT1 năm 2026 và mức phụ phí 0.0375 baht mỗi đơn vị https://www.mea.or.th/public-relations/corporate-news-activities/announcement/mea-ugt1-registration-2026-green-energy
- Trang chính thức Thailand Utility Green Tariff của EGAT, gồm nguồn cung, sản lượng, thời hạn hợp đồng và phương thức Bundled REC https://ugt-thai.com/
- Trang chính thức Utility Green Tariff của ERC, gồm nghị quyết gốc và việc phê duyệt UGT2 https://www.erc.or.th/th/util-green-tariff
- Lấy ý kiến công khai của ERC về biểu giá UGT1 cho năm dịch vụ 2569, từ ngày 7 đến ngày 19 tháng 1 năm 2026 https://www.erc.or.th/th/listen-to-opinions/590
- Bài báo Thansettakij ngày 19 tháng 4 năm 2026 về phí quản lý UGT2, nhóm khách hàng đủ điều kiện, thời hạn hợp đồng và mức sử dụng UGT1 https://www.thansettakij.com/sustainable/net-zero/656948
- SolarQuarter, Thailand Launches UGT2 Program To Boost Corporate Access To Renewable Energy, ngày 20 tháng 3 năm 2026 https://solarquarter.com/2026/03/20/thailand-launches-ugt2-program-to-boost-corporate-access-to-renewable-energy/
- EGAT I-REC Issuer, đơn vị phát hành I-REC(E) tại Thái Lan https://irecissuer.egat.co.th/
- GHG Protocol, Upcoming Scope 2 Public Consultation on Hourly Matching and Deliverability https://ghgprotocol.org/blog/upcoming-scope-2-public-consultation-hourly-matching-and-deliverability
- Nagashima Ohno and Tsunematsu, Thailand’s Direct PPA Pilot Project, ngày 22 tháng 12 năm 2025 https://www.nagashima.com/en/publications/publication20251222-2/
- Reccessary, Thailand launches Utility Green Tariff, offering 2 billion kWh for SMEs https://www.reccessary.com/en/news/thailand-launches-utility-green-tariff-for-business
- Reccessary, Thailand to pilot 2 GW direct PPA for data centers in 2026 https://www.reccessary.com/en/news/thailand-dppa-data-centers
- Energy News Center đưa tin về đề xuất giảm 37 phần trăm phụ phí UGT1 năm 2569 https://www.energynewscenter.com/3-%E0%B8%81%E0%B8%B2%E0%B8%A3%E0%B9%84%E0%B8%9F%E0%B8%9F%E0%B9%89%E0%B8%B2%E0%B9%80%E0%B8%AA%E0%B8%99%E0%B8%AD%E0%B8%9B%E0%B8%A3%E0%B8%B1%E0%B8%9A%E0%B8%A5%E0%B8%94%E0%B8%84%E0%B9%88%E0%B8%B2%E0%B8%9E/