“Nhà máy chúng tôi đo điện theo từng phút, nên số liệu CO2 lấy ra lúc nào cũng được.” Đây là câu trả lời không hiếm gặp tại các nhà máy Nhật Bản ở Thái Lan. Nhưng khi mở bảng câu hỏi mà khách hàng vừa gửi tới ra xem, phần lớn trường hợp không điền nổi một dòng nào. Bởi vì đo kWh và báo cáo tCO2e là hai công việc khác nhau. Bước sang năm 2026, CBAM của EU đã vào giai đoạn áp dụng chính thức và hệ số phát thải điện của Thái Lan cũng đã được cập nhật. Trực quan hóa lượng phát thải CO2 đang chuyển từ “việc nên làm” thành “điều kiện tiên quyết của những giấy tờ phải nộp cho đối tác”. Bài viết này rút gọn tất cả về một tiêu chí duy nhất để quyết định phải đo chi tiết đến đâu.
Vì sao nhà máy đã đo điện vẫn không đưa ra được lượng phát thải CO2
Hệ thống giám sát điện chỉ tạo ra “dữ liệu hoạt động”
Bản thân công thức tính lượng phát thải đơn giản đến mức gây hụt hẫng.
Lượng phát thải (tCO2e) = Dữ liệu hoạt động × Hệ số phát thải
Với điện mua vào, dữ liệu hoạt động là kWh, còn hệ số phát thải là hệ số điện của quốc gia đó trong năm đó. Chỉ có một phép nhân, không có toán học nào khó cả. Vậy mà nhà máy đo điện rất chi tiết vẫn không xuất được báo cáo, lý do là họ chỉ nắm vế bên trái của phép nhân.
Thứ mà hệ thống giám sát điện năng hay hệ thống giám sát năng lượng tạo ra là dữ liệu hoạt động. kWh theo phút, nhu cầu công suất theo từng chuyền, hệ số tải theo từng thiết bị. Những dữ liệu này rất hữu ích cho hoạt động cắt giảm, nhưng bản thân chúng không phải là lượng phát thải. Để biến thành lượng phát thải, cần thêm ba yếu tố khác là hệ số, ranh giới và bằng chứng.
Ba thứ còn thiếu là “hệ số”, “ranh giới” và “bằng chứng”
Khi chúng tôi tham gia các dự án chuyển hệ thống giám sát điện sẵn có sang tính toán CO2, ba thứ đầu tiên phải lấp đầy luôn là ba thứ này.
Hệ số là thông tin về việc bạn đã dùng hệ số do cơ quan nào công bố, ở thời điểm nào, cho phạm vi nào. Tại Thái Lan năm 2026, hệ số cho điện mua vào do TGO (Tổ chức Quản lý Khí nhà kính Thái Lan) công bố đã được cập nhật kể từ ngày 1 tháng 1. Cùng một lượng kWh, nhưng hệ số nhân vào thay đổi thì giá trị báo cáo cũng thay đổi. Và dữ liệu mà sau này không giải thích được “đã dùng hệ số nào” thì không dùng được trong khâu thẩm định.
Ranh giới là việc vạch lằn ranh xem tính từ đâu đến đâu là phát thải của chính doanh nghiệp mình. Nhà xưởng thuê có phần điện khu vực dùng chung nằm trong hóa đơn của chủ nhà, xe của công ty lẫn với vận chuyển thuê ngoài, có tháng phải chạy máy phát điện đi thuê. Những tình huống như vậy xảy ra rất bình thường tại các nhà máy Nhật Bản, và mỗi lần vạch lại lằn ranh là con số lại đổi.
Bằng chứng là tư liệu để giải thích cho bên thứ ba biết con số đó đến từ đâu. Hóa đơn của công ty điện lực, giấy kiểm định đồng hồ đo, chứng từ mua nhiên liệu, hồ sơ nạp môi chất lạnh. Màn hình dashboard có đẹp đến đâu, nếu phía sau không có việc đối chiếu với hóa đơn thì cơ quan thẩm định không thể tiếp nhận con số.
Quản lý kWh và báo cáo tCO2e có mục đích khác nhau
Nếu đầu tư trong khi vẫn lẫn lộn hai thứ này, chắc chắn sau đó sẽ phải làm lại. Xin sắp xếp lại điểm khác biệt.
| Góc nhìn | Quản lý kWh (giám sát điện và năng lượng) | Báo cáo tCO2e (trực quan hóa phát thải CO2) |
|---|---|---|
| Mục đích | Tìm ra chỗ dùng quá mức để cắt giảm | Nộp con số ra bên ngoài và giải trình |
| Độ chi tiết yêu cầu | Càng chi tiết càng tốt (theo thiết bị, theo phút) | Chỉ cần tới mức bên nhận báo cáo yêu cầu |
| Độ chính xác yêu cầu | Đúng xu hướng là đủ | Số cộng dồn phải khớp với hóa đơn |
| Phạm vi đối tượng | Điện, khí nén, nước, hơi mà nhà máy tự dùng | Có thể bao gồm cả nhiên liệu, môi chất lạnh, hàng mua vào, logistics |
| Tốc độ cập nhật | Thời gian thực có giá trị | Chốt theo tháng, theo năm là đủ |
| Thẩm định | Khép kín trong nội bộ | Có thể kèm thẩm định độc lập và đăng ký công bố |
| Xử lý khi thiếu dữ liệu | Có thể bỏ qua, coi như dữ liệu khuyết | Phải nêu rõ phương pháp ước tính để lấp vào |
Nhìn cột bên phải sẽ thấy, thứ mà báo cáo tCO2e cần không phải là “độ chi tiết”. Thứ cần thiết là con số đã ở dạng có thể giải trình cho một người bên ngoài hay chưa. Đây chính là điểm xuất phát của bài viết này. Về cách xây dựng phần đo lường ở phía năng lượng, chúng tôi đã trình bày trong bài triển khai hệ thống giám sát năng lượng cho nhà máy, nên phần cách tạo ra dữ liệu hoạt động xin tham khảo tại đó.
Bốn lý do khiến nhà máy Nhật Bản tại Thái Lan cần trực quan hóa phát thải CO2 trong năm 2026
Suốt vài năm qua người ta vẫn nói “rồi sẽ cần thôi”, nhưng sang năm 2026 thì tình hình đã thay đổi rõ rệt. Xin sắp xếp các chuyển động chính sách thành bốn nhóm. Phần này ngày tháng và con số là mấu chốt, nên chỉ viết những nội dung đã kiểm chứng được.
Lý do 1 — CBAM của EU bước vào giai đoạn áp dụng chính thức từ ngày 1 tháng 1 năm 2026
Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU đã chuyển sang giai đoạn áp dụng chính thức (definitive regime) từ ngày 1 tháng 1 năm 2026. Hình thái của cơ chế đã đổi từ báo cáo theo quý trong giai đoạn chuyển tiếp sang khai báo theo năm. Việc bán chứng chỉ CBAM bắt đầu từ ngày 1 tháng 2 năm 2027, và lần nộp trả chứng chỉ đầu tiên diễn ra trong năm 2027 (áp dụng cho phần nhập khẩu của năm 2026).
Phần lớn nhà máy Nhật Bản tại Thái Lan không xuất khẩu trực tiếp sang EU, nên hay có kết luận “chuyện này không liên quan đến chúng tôi”. Nhưng thứ đang xảy ra trong thực tế không phải là áp dụng trực tiếp, mà là các yêu cầu đến qua đường khách hàng. Đối tác đang xuất hàng sang EU sẽ yêu cầu nhà cung ứng tại Thái Lan đang giao linh kiện hoặc bán thành phẩm cung cấp dữ liệu cường độ phát thải cần cho phần khai báo của họ. Không thể trả lời yêu cầu này bằng tổng lượng phát thải cả năm của toàn nhà máy. Cái được yêu cầu là con số gắn với từng sản phẩm hoặc từng mã hàng.
Lý do 2 — Hệ số phát thải điện của TGO được cập nhật từ ngày 1 tháng 1 năm 2026
Tổ chức Quản lý Khí nhà kính Thái Lan (TGO) đã cập nhật hệ số phát thải liên quan đến điện năng của Thái Lan. Các giá trị áp dụng từ ngày 1 tháng 1 năm 2026 như sau.
- Scope 2 (điện mua vào) = 0,4750 kgCO2e/kWh — hệ số áp dụng cho việc sử dụng điện mua từ lưới
- Scope 3 (thượng nguồn) = 0,0812 kgCO2e/kWh — các công đoạn trước khâu phát điện như khai thác và vận chuyển nhiên liệu
Để có thời gian cập nhật hệ thống, việc sử dụng hệ số cũ vẫn được chấp nhận đến hết ngày 31 tháng 3 năm 2026. Chính sự tồn tại của khoảng thời gian gia hạn này lại gây phiền toái bất ngờ trong thực tế. Nhà máy nào dùng hệ số khác nhau cho giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 3 và giai đoạn từ tháng 4 trở đi trong cùng một năm tài chính thì khi xuất giá trị cả năm phải giải thích được đã tính phần nào bằng hệ số nào. Nếu hệ số bị viết cứng bên trong hệ thống thì không tạo ra được lời giải thích đó.
Một điểm nữa dễ bị bỏ sót là việc có một hệ số riêng cho phần thượng nguồn Scope 3. Chừng nào còn dùng điện mua vào thì phần nhà máy điện khai thác và vận chuyển nhiên liệu vẫn tồn tại như phát thải thượng nguồn. Nếu chỉ báo cáo Scope 2 và nói “phát thải do điện của chúng tôi chỉ có bấy nhiêu” thì đó là con số đã thiếu mất phần thượng nguồn.
Lý do 3 — GX-ETS vận hành chính thức ở phía công ty mẹ tại Nhật Bản
Chính sách phía Nhật Bản cũng chuyển động. Luật Thúc đẩy GX sửa đổi có hiệu lực từ ngày 1 tháng 4 năm 2026, và chế độ mua bán phát thải (GX-ETS) vận hành chính thức từ năm tài chính 2026. Đối tượng là các doanh nghiệp có lượng phát thải trực tiếp bình quân ba năm tài chính gần nhất từ 100.000 tấn một năm trở lên, ước tính khoảng 300 đến 400 doanh nghiệp, bao phủ khoảng 60% lượng phát thải khí nhà kính của Nhật Bản.
Pháp nhân tại Thái Lan không phải là đối tượng trực tiếp của chế độ này. Thứ thực sự tác động là việc công ty mẹ buộc phải nói về lượng phát thải trên cơ sở hợp nhất. Khi trụ sở chính tại Nhật Bản xây dựng nền tảng tổng hợp nội bộ để đáp ứng chế độ, yêu cầu đó sẽ chảy xuống cả các công ty con ở nước ngoài. Việc đột ngột nhận được thông báo kiểu “từ kỳ này các cơ sở nước ngoài cũng nộp hàng tháng theo cùng một biểu mẫu” chính là nằm trong dòng chảy này.
Lý do 4 — Luật Biến đổi Khí hậu của Thái Lan “vẫn chưa được ban hành”, nhưng đồng hồ chuẩn bị đã chạy
Đây là chỗ nhiều người hiểu nhầm, nên xin viết thật chính xác. Luật Biến đổi Khí hậu của Thái Lan (Climate Change Act) vẫn chưa được ban hành.
Ngày 2 tháng 12 năm 2025, nội các mới chỉ phê duyệt về nguyên tắc, sau đó dự luật còn phải qua thẩm định của Hội đồng Nhà nước (Council of State) rồi mới tiến tới thảo luận tại Quốc hội. Thời điểm có hiệu lực được dự kiến vào nửa đầu năm 2027. Sau khi ban hành, khung pháp lý dự kiến bao gồm nghĩa vụ báo cáo khí nhà kính, chế độ mua bán phát thải (ETS) và thuế carbon, nhưng việc thực tế phải báo cáo cái gì đến mức nào thì còn chờ các văn bản dưới luật (được cho là lên tới 50 văn bản).
Nghĩa là ở thời điểm hiện tại, cách giải thích “luật Thái Lan đã bắt buộc nên phải làm” là không đúng. Dù vậy vẫn có lý do để chuẩn bị sớm. Bởi vì con số nộp trong năm đầu tiên chế độ có hiệu lực sẽ được lập từ dữ liệu của năm liền trước. Với một chế độ có hiệu lực vào nửa đầu năm 2027, bắt đầu đo từ năm 2027 là không kịp. Điều có thể làm trước khi chi tiết chế độ được chốt là bắt đầu thu thập dữ liệu hoạt động, và định hình sẵn khuôn mẫu về ranh giới và bằng chứng.
Xếp bốn chuyển động lên cùng một bảng
| Chế độ, chuyển động | Trạng thái hiện tại | Tác động tới nhà máy | Độ chi tiết được yêu cầu |
|---|---|---|---|
| CBAM của EU | Áp dụng chính thức từ 1/1/2026. Bán chứng chỉ từ 1/2/2027 | Yêu cầu dữ liệu cường độ phát thải đến qua khách hàng | Theo sản phẩm, theo mã hàng |
| Hệ số phát thải TGO | Bắt đầu áp dụng từ 1/1/2026. Được dùng hệ số cũ đến 31/3 | Cùng lượng kWh nhưng giá trị báo cáo thay đổi | Toàn nhà máy cũng được |
| GX-ETS của Nhật Bản | Luật Thúc đẩy GX sửa đổi hiệu lực 1/4/2026, vận hành chính thức từ năm tài chính 2026 | Yêu cầu nộp số liệu khớp với tổng hợp hợp nhất của công ty mẹ | Theo cơ sở, theo tháng |
| Luật Biến đổi Khí hậu Thái Lan | Chưa ban hành. Nội các phê duyệt nguyên tắc ngày 2/12/2025, dự kiến hiệu lực nửa đầu năm 2027 | Báo cáo năm đầu tiên sẽ lập từ dữ liệu năm trước | Chưa xác định (chờ văn bản dưới luật) |
Xin chú ý cột ngoài cùng bên phải. Độ chi tiết được yêu cầu khác nhau tùy từng chế độ. Bảng này dẫn thẳng tới chủ đề trung tâm của nửa sau bài viết.
Vạch ranh giới Scope 1, Scope 2 và Scope 3 ở đâu trong nhà máy tại Thái Lan

Đưa định nghĩa ba Scope xuống tận thiết bị của nhà máy
Định nghĩa trong GHG Protocol khá trừu tượng, nên xin thay bằng thiết bị thực tế của nhà máy tại Thái Lan.
Scope 1 là những gì doanh nghiệp trực tiếp đốt và trực tiếp làm rò rỉ. Bao gồm nhiên liệu lò hơi, dầu diesel của máy phát điện dự phòng, xe nâng chạy LPG, xăng của xe công ty, và rò rỉ môi chất lạnh từ máy lạnh cùng hệ thống điều hòa. Môi chất lạnh thường hay bị quên, nhưng vì GWP (chỉ số nóng lên toàn cầu) rất lớn nên dù lượng rò rỉ ít, quy ra lượng phát thải vẫn có thể lớn đến mức không thể bỏ qua.
Scope 2 là phát thải đi kèm việc sử dụng năng lượng mua vào. Tại nhà máy ở Thái Lan, phần chính là điện mua từ PEA hoặc MEA, và tùy khu công nghiệp còn có thêm hơi mua vào hoặc nước lạnh mua vào. Hệ số TGO 0,4750 kgCO2e/kWh nêu ở trên được nhân vào chính hạng mục này.
Scope 3 là phát thải xảy ra bên ngoài thiết bị của doanh nghiệp. Đối tượng được phân loại rộng từ thượng nguồn đến hạ nguồn, nhưng thứ nhà máy phải đối diện đầu tiên là phần thượng nguồn của điện mua vào (0,0812 kgCO2e/kWh), rồi đến nguyên vật liệu và linh kiện mua vào, vận chuyển và chất thải.
Bảng tra nhanh phân loại theo thiết bị
| Thiết bị, hoạt động | Phân loại | Lưu ý trong thực tế |
|---|---|---|
| Điện mua vào (PEA / MEA) | Scope 2 | Phần thượng nguồn hạch toán riêng vào Scope 3 |
| Nhiên liệu lò hơi (dầu FO, LPG, khí thiên nhiên) | Scope 1 | Hệ số khác nhau theo từng loại nhiên liệu |
| Dầu diesel của máy phát dự phòng | Scope 1 | Tính cả phần chạy thử. Chứng từ đổ dầu là bằng chứng |
| Xe nâng chạy LPG | Scope 1 | Quy đổi từ số bình gas đã thay |
| Xe nâng chạy điện | Scope 2 | Phần sạc đã nằm trong điện mua vào |
| Môi chất lạnh của máy lạnh và điều hòa | Scope 1 | Không có hồ sơ nạp thì không ước tính nổi |
| Điện mặt trời áp mái tự dùng | Coi như bằng không | Cách xử lý đổi khi bán điện hoặc chuyển nhượng giá trị môi trường |
| Nguyên vật liệu và linh kiện mua vào | Scope 3 | Lý tưởng là dữ liệu sơ cấp từ nhà cung ứng |
| Vận chuyển thuê ngoài | Scope 3 | Nếu là xe của công ty thì thành Scope 1 |
| Nhân viên đi làm và công tác | Scope 3 | Xe đưa đón thuộc sở hữu công ty thì là Scope 1 |
| Chất thải phát sinh từ nhà máy | Scope 3 | Hệ số thay đổi theo phương pháp xử lý |
Những chỗ hay bị vạch nhầm ngay tại hiện trường ở Thái Lan
Bốn điểm sau là những thứ chúng tôi kiểm tra đầu tiên trong mọi dự án. Cả bốn đều ở mức “gần như lần nào cũng gặp” chứ không chỉ là “thỉnh thoảng”.
Thứ nhất, điện khu vực dùng chung của nhà xưởng thuê. Ở nhà xưởng cho thuê trong khu công nghiệp, điều hòa và chiếu sáng khu vực chung nhiều khi được phân bổ vào hóa đơn của chủ nhà. Phần phân bổ đó nên đưa thẳng vào Scope 2 của mình hay xử lý như Scope 3? Không xem hợp đồng và bảng kê hóa đơn thì không quyết được.
Thứ hai, điện mặt trời tự dùng. Phần điện phát ra từ tấm pin áp mái và tự dùng sẽ được trừ khỏi điện mua vào, nên trên thực tế có thể coi là phát thải bằng không. Tuy nhiên nếu giá trị môi trường (chứng chỉ năng lượng tái tạo và tương tự) đã được bán cho bên thứ ba thì câu chuyện khác hẳn. Đã bán giá trị đi rồi thì không thể tuyên bố phần đó bằng không.
Thứ ba, máy phát điện đi thuê và thiết bị tạm. Thiết bị chỉ chạy trong đợt tăng sản lượng hoặc trong kỳ bảo trì thường rơi rụng nguyên khối khỏi bảng tổng hợp hàng tháng. Tình trạng chứng từ mua nhiên liệu còn lưu ở kế toán nhưng không chảy sang bảng tổng hợp dữ liệu môi trường xảy ra rất bình thường.
Thứ tư, ranh giới giữa xe công ty và vận chuyển thuê ngoài. Cùng một chiếc xe tải, thuộc sở hữu công ty thì là Scope 1, thuê ngoài thì là Scope 3. Lần nào cũng cần kiểm tra lại, vì có những chiếc xe tải in tên công ty nhưng thực chất là xe của hãng vận tải.
Bốn điểm này không giải quyết được bằng cách lắp thêm một cảm biến. Vì đây là công việc xem hợp đồng và chứng từ để vạch lằn ranh, chứ không phải vấn đề đo lường. Việc đầu tiên phải làm khi chuẩn bị trực quan hóa không phải là chọn thiết bị, mà là vạch lằn ranh này.
Tính toán thực tế bằng hệ số phát thải của TGO (Scope 2 và Scope 3 thượng nguồn)

Thử tính toán (toàn bộ dưới đây là mô hình giả định)
Các con số trình bày từ đây là mô hình giả định đặt ra để minh họa, không phải giá trị đo thực tế của một nhà máy cụ thể, cũng không phải giá trị trung bình ngành. Thứ mong quý vị nhìn vào không phải bản thân số tiền hay lượng phát thải, mà là trình tự sắp xếp của phép tính.
Giả định là một nhà máy gia công kim loại của Nhật Bản nằm trong khu công nghiệp tại Thái Lan. Đặt lượng điện mua vào hàng tháng là 500.000 kWh. Sử dụng hệ số TGO áp dụng từ ngày 1 tháng 1 năm 2026.
Scope 2 (điện mua vào)
500.000 kWh × 0,4750 kgCO2e/kWh = 237.500 kgCO2e = 237,5 tCO2e/tháng
Scope 3 (thượng nguồn của điện)
500.000 kWh × 0,0812 kgCO2e/kWh = 40.600 kgCO2e = 40,6 tCO2e/tháng
Quy ra cả năm sẽ như sau.
| Phân loại | Hệ số (kgCO2e/kWh) | Hàng tháng (tCO2e) | Cả năm (tCO2e) | Tỷ lệ so với Scope 2 |
|---|---|---|---|---|
| Scope 2 (điện mua vào) | 0,4750 | 237,5 | 2.850,0 | 100% |
| Scope 3 (thượng nguồn) | 0,0812 | 40,6 | 487,2 | Khoảng 17,1% |
| Tổng phát thải do điện | 0,5562 | 278,1 | 3.337,2 | Khoảng 117,1% |
Những điều mong quý vị đọc ra từ bảng này
Trước hết, phần thượng nguồn chiếm khoảng 17% so với Scope 2. Đó là tỷ lệ 0,0812 chia 0,4750 bằng khoảng 0,171. Nếu chỉ báo cáo Scope 2 và nói “lượng phát thải do điện của nhà máy chúng tôi là 2.850 tấn một năm” thì thực chất đang trình bày một câu chuyện quy mô 3.337 tấn một năm ở mức khoảng 85%. Bảng câu hỏi Scope 3 của khách hàng thường yêu cầu con số đã bao gồm thượng nguồn, nên bỏ sót chỗ này sẽ phải nộp lại sau.
Tiếp theo, đầu vào cần cho phép tính này chỉ là một con số duy nhất là kWh hàng tháng. Nếu chỉ để xuất tổng lượng phát thải cả năm của toàn nhà máy thì mười hai tờ hóa đơn của công ty điện lực là đủ. Không cần cảm biến, không cần gateway, không cần dashboard. Điều này rất quan trọng, vì nếu nghe “trực quan hóa CO2” mà việc đầu tiên là đi lấy báo giá cảm biến thì sẽ bắt đầu từ một khoản đầu tư không cần thiết.
Phần việc tăng lên khi cộng thêm Scope 1
Cộng thêm Scope 1 vào phép tính trên thì sẽ thế nào? Vì hệ số khác nhau theo từng loại nhiên liệu nên bài viết này không nêu hệ số nhiên liệu cụ thể, nhưng khối lượng công việc thực tế phân hóa rất rõ tùy theo nguồn lấy dữ liệu.
Điện mua vào (Scope 2) và phần thượng nguồn của nó (Scope 3) đều dùng chung một đầu vào là kWh hàng tháng, và lấy được tự động từ hóa đơn công ty điện lực hoặc đồng hồ tại điểm nhận điện. Đây là vùng dễ tự động hóa. Ngược lại, nhiên liệu lò hơi phải nhặt từ chứng từ mua hàng và biến động tồn kho bồn chứa, xe nâng LPG lấy từ sổ xuất nhập bình gas tại hiện trường, còn rò rỉ môi chất lạnh thì nguồn dữ liệu là hồ sơ công việc của bộ phận bảo trì. Ba thứ sau không tự động xuất ra từ hệ thống.
Điều cần nắm ở đây là hạng mục càng khó tự động hóa thì thực ra lại càng được quyết định bởi quy tắc vận hành của con người. Nếu bộ phận bảo trì đang lưu hồ sơ nạp môi chất lạnh trên giấy thì chỉ cần quyết định ai thu thập hàng tháng và ngày chốt là xong. Không cần đưa hệ thống vào chỗ này. Ngược lại, nếu đưa hệ thống vào mà không có quy tắc vận hành đó thì chỉ làm tăng thêm những bảng dữ liệu chủ không ai nhập.
Tai nạn xảy ra khi chuyển đổi hệ số
Còn một lưu ý nữa mang tính đặc thù của năm 2026. Hệ số mới của TGO áp dụng từ ngày 1 tháng 1 năm 2026, nhưng việc dùng hệ số cũ vẫn được chấp nhận đến hết ngày 31 tháng 3 năm 2026. Nếu không quyết trước cách xử lý khoảng gia hạn này thì sẽ xảy ra tình trạng như sau.
- Tháng 1 đến tháng 3 tính bằng hệ số cũ, từ tháng 4 trở đi tính bằng hệ số mới
- Nhưng trong hệ thống chỉ có duy nhất một trường “hệ số”, và nó bị ghi đè giữa chừng
- Cuối năm tài chính tính lại phần quá khứ thì số liệu tháng 1 đến tháng 3 bị ghi đè bằng hệ số mới
- Không ai còn giải thích được tháng nào đã xuất bằng hệ số nào
Hệ số phát thải cần được nắm giữ như một bảng dữ liệu chủ có thời hạn hiệu lực, chứ không phải như một giá trị cài đặt. Hãy lưu lịch sử theo dạng “có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2026, giá trị 0,4750” để có thể tái hiện lại giá trị báo cáo trong quá khứ. Về kỹ thuật thì việc này không khó, nhưng nếu không quyết ngay từ thiết kế ban đầu thì sau này thêm vào rất phiền.
Độ chi tiết của trực quan hóa không do “mục tiêu cắt giảm” mà do “bên nhận báo cáo” quyết định

Đây là phần trung tâm của bài viết.
Khi cân nhắc trực quan hóa lượng phát thải CO2, nhiều nhà máy bắt đầu từ câu hỏi “để cắt giảm thì phải đo chi tiết đến đâu”. Đo theo từng thiết bị thì tìm ra lãng phí, đo theo từng chuyền thì so sánh được. Cách nghĩ này không sai, nhưng nó không vận hành được với vai trò tiêu chí quyết định đầu tư. Bởi nó chỉ đi theo một hướng duy nhất là càng chi tiết càng tốt.
Tiêu chí quyết định nằm ở một câu hỏi khác.
Con số đó sẽ đưa cho ai?
Khi bên nhận báo cáo đã xác định thì độ chi tiết cần thiết, mức thẩm định cần thiết và tần suất cập nhật cần thiết đều được xác định một cách duy nhất. Ngược lại, nếu bắt đầu từ độ chi tiết mà chưa xác định bên nhận báo cáo thì chắc chắn sẽ có chỗ thừa chỗ thiếu.
Xếp yêu cầu của từng bên nhận báo cáo lên cùng một bảng
Bảng dưới đây sắp xếp theo độ chi tiết, mức thẩm định và tần suất, dựa trên các bên nhận báo cáo mà chúng tôi đã thực sự xử lý tại các nhà máy Nhật Bản ở Thái Lan.
| Bên nhận báo cáo | Độ chi tiết cần thiết | Mức thẩm định | Tần suất cập nhật | Bằng chứng chủ yếu cần có |
|---|---|---|---|---|
| Hoạt động cắt giảm nội bộ | Theo thiết bị, theo chuyền | Không cần (khép kín nội bộ) | Hàng ngày đến thời gian thực | Chỉ cần giá trị đo |
| Công bố hợp nhất của công ty mẹ tại Nhật Bản | Theo cơ sở (toàn nhà máy) | Kiểm toán nội bộ của công ty mẹ | Hàng tháng hoặc hàng quý | Hóa đơn điện, chứng từ nhiên liệu |
| Bảng câu hỏi Scope 3 của khách hàng | Toàn nhà máy hoặc theo nhóm sản phẩm | Chủ yếu là tự khai báo | Một năm một lần | Tài liệu thuyết minh phương pháp tính |
| Yêu cầu CBAM đến qua khách hàng | Trên một sản phẩm hoặc một tấn | Đủ chuẩn cho khai báo của khách hàng | Theo lô xuất hàng đến hàng năm | Hồ sơ gắn kết với sản lượng thực tế |
| Đăng ký CFO của TGO | Toàn tổ chức (nêu rõ ranh giới) | Thẩm định bởi đơn vị được TGO công nhận | Một năm một lần | Hóa đơn, hồ sơ đo, toàn bộ căn cứ tính toán |
| Luật Biến đổi Khí hậu Thái Lan trong tương lai (chưa ban hành) | Chưa xác định | Chưa xác định | Chưa xác định | Chờ hoàn thiện văn bản dưới luật |
| Đấu thầu và thẩm định nhà cung ứng | Toàn nhà máy cộng thành tích cắt giảm | Dựa trên hồ sơ nộp | Theo từng dự án | Dữ liệu so sánh với các năm trước |
Cách đọc bảng này
Xin so sánh cột thứ ba và cột thứ tư. Bên nhận báo cáo càng kèm thẩm định độc lập thì tần suất cập nhật càng có xu hướng thấp đi. (Ngoại lệ dễ thấy là các yêu cầu liên quan CBAM đòi hỏi theo đơn vị sản phẩm, phần này sẽ bàn ở mục kế tiếp.)
Hoạt động cắt giảm nội bộ muốn dữ liệu thời gian thực nhưng không chịu thẩm định của ai. Ngược lại, đăng ký CFO của TGO có thẩm định độc lập nhưng chỉ một năm một lần. Ở đây có một sự thật mang tính cấu trúc.
Tính thời gian thực và khả năng chịu được thẩm định là hai yêu cầu tách rời nhau.
Có gom đủ dữ liệu chi tiết theo thời gian thực mà không đối chiếu được với hóa đơn thì vẫn không qua được thẩm định. Ngược lại, bảng tổng hợp một năm một lần dựa trên hóa đơn thì qua được thẩm định nhưng không dùng được cho hoạt động cắt giảm. Nếu cố thỏa mãn đồng thời hai thứ này bằng một hệ thống duy nhất thì chi phí sẽ tăng vọt. Và trong nhiều dự án, thực tế chỉ cần một trong hai.
Ai là bên yêu cầu con số “trên mỗi sản phẩm”
Trong bảng trên, thứ có tính chất yêu cầu khác hẳn là các yêu cầu liên quan đến CBAM. Chỉ riêng chỗ này đòi hỏi theo đơn vị sản phẩm.
Để hạ tổng lượng phát thải của toàn nhà máy xuống mức trên mỗi sản phẩm, cần chia lượng phát thải cho sản lượng thực tế. Nghĩa là lượng phát thải phát sinh trong kỳ và sản lượng làm ra trong chính kỳ đó phải được chốt trên cùng một mốc thời gian. Hơn nữa, với nhà máy sản xuất nhiều chủng loại thì cần có quy tắc phân bổ bao nhiêu cho chủng loại nào.
Phương pháp phân bổ có bốn cấp, xếp từ độ chính xác thấp lên cao.
- Phân bổ theo sản lượng — chia tổng lượng phát thải cho số lượng sản phẩm. Hợp với nhà máy chỉ làm một chủng loại hoặc các sản phẩm tương tự nhau, nhưng không phản ánh chênh lệch khối lượng và chênh lệch công đoạn.
- Phân bổ theo khối lượng — phân chia theo tỷ lệ khối lượng sản phẩm. Hợp với gia công vật liệu, đúc, đùn ép, nhưng không thể hiện được chênh lệch công sức gia công.
- Phân bổ theo thời gian vận hành — phân chia theo tỷ lệ thời gian chạy máy. Hợp với gia công lắp ráp nhiều chủng loại, nhưng cần đo theo từng thiết bị.
- Phân bổ theo số đo thực tế — phân chia theo kWh đo thực tế của chuyền và thiết bị. Hiệu quả khi có công đoạn tiêu thụ nhiều điện, nhưng cần đầu tư thêm điểm đo.
Càng xuống dưới thì độ chính xác càng cao, đồng thời số điểm đo cần thiết và công sức gắn kết dữ liệu cũng tăng lên. Và hai phương pháp đầu hoàn toàn không cần bổ sung bất kỳ phép đo nào. Chỉ cần sản lượng lấy từ hệ thống quản lý sản xuất và hóa đơn của công ty điện lực là tính được.
Nếu đang ở giai đoạn “phải trả lời khách hàng cái gì đó trước đã” thì thực tế nhất là xuất số theo phân bổ sản lượng hoặc phân bổ khối lượng, kèm ghi rõ phương pháp phân bổ. Phân bổ theo số đo thực tế chỉ trở nên cần thiết khi khách hàng chỉ định luôn cả phương pháp tính, hoặc khi chênh lệch phát thải giữa các sản phẩm bắt đầu ảnh hưởng tới đàm phán giá. Nếu không phân định được điểm này mà nhảy thẳng vào phân bổ theo số đo thực tế thì sẽ đầu tư vào những điểm đo không cần thiết.
Có nên chọn độ chi tiết theo “bên nhận báo cáo khắt khe nhất” không
Chúng tôi thường nhận được câu hỏi “nghĩ tới tương lai thì muốn làm chi tiết nhất ngay từ đầu”. Câu trả lời của chúng tôi là có điều kiện.
Thứ nên làm chi tiết là cách nắm giữ dữ liệu (cấu trúc). Không phải bản thân độ chi tiết (số lượng điểm đo).
Cụ thể, nếu đưa vào ba thứ sau ngay từ đầu thì sau này nâng độ chi tiết chỉ cần đầu tư bổ sung là xong.
- Nắm giữ hệ số phát thải như bảng dữ liệu chủ có thời hạn hiệu lực — như đã nói ở chương trước. Để có thể tái hiện giá trị báo cáo trong quá khứ
- Luôn gắn cho dữ liệu hoạt động thuộc tính “ở đâu, khi nào, phân loại nào” — bốn thuộc tính gồm cơ sở, điểm đo, kỳ và phân loại Scope. Nếu chỉ giữ mỗi giá trị thì sau này không phân bổ được
- Quyết trước khóa đối chiếu với sản lượng thực tế — chỉ riêng việc thống nhất ngày chốt kỳ giữa điện và sản xuất đã thay đổi rất nhiều khả năng hạ xuống đơn vị sản phẩm về sau
Ngược lại, chúng tôi không khuyến nghị lắp điểm đo khắp nhà máy ngay từ đầu. Vì điểm đo có thể tăng thêm sau, nhưng cấu trúc thì sau này không sửa được. Hãy quyết cách nắm giữ dữ liệu trước, còn điểm đo thì tăng vào đúng thời điểm bên nhận báo cáo yêu cầu. Theo trình tự này thì gần như không xảy ra chuyện phải làm lại.
Về cách chọn điểm đo phía điện năng và việc lấy được đến đâu từ tủ nhận điện hiện có, chúng tôi đã sắp xếp cụ thể trong bài hệ thống giám sát điện năng cho nhà máy. Nếu bắt đầu từ thiết kế điểm đo thì xin đọc bài đó trước.
Lộ trình 90 ngày chuyển từ hệ thống giám sát điện sẵn có sang tính toán CO2
Với nhà máy đã có sẵn hệ thống giám sát điện hoặc giám sát năng lượng, việc chuyển sang tính toán CO2 nhẹ nhàng hơn nhiều so với xây mới. Xin sắp xếp cách triển khai mà chúng tôi đang dùng trong các dự án theo đơn vị 90 ngày. Ba mươi ngày đầu tiên hoàn toàn khép kín ở phía chủ đầu tư, nhà cung cấp chỉ tham gia từ ngày thứ 31 trở đi.
Ngày 0 đến 30 — quyết định trước khi đo
Trong tháng đầu tiên hoàn toàn không có chuyện thiết bị đo. Việc phải làm gồm bốn thứ.
Kiểm kê bên nhận báo cáo là viết ra giấy những yêu cầu đã đến và những yêu cầu dự kiến sẽ đến sau một năm và sau ba năm. Biểu mẫu từ công ty mẹ, bảng câu hỏi của khách hàng, kế hoạch đăng ký TGO, yêu cầu nộp hồ sơ khi đấu thầu. Đây là công việc áp tình hình của doanh nghiệp mình vào bảng ở chương trước.
Xác định ranh giới là vạch lằn ranh trong khi xem hợp đồng và bảng kê hóa đơn. Khu vực dùng chung của nhà xưởng thuê, giá trị môi trường của điện mặt trời, thiết bị đi thuê, phân biệt xe công ty với thuê ngoài. Chỗ này bộ phận môi trường không tự quyết được. Cần lôi kéo cả kế toán và bộ phận mua hàng vào cuộc.
Lập bản đồ điểm đo hiện có là liệt kê xem hiện đang đo được cái gì ở đâu. Ở nhiều nhà máy, danh sách này không hề tồn tại. Tình trạng thường gặp là số liệu có hiện trên màn hình BEMS nhưng không ai nắm được dữ liệu thô nằm ở đâu và còn lưu được bao nhiêu ngày.
Lập sổ hệ số là gom vào một trang các hệ số sẽ dùng cùng nguồn gốc và kỳ áp dụng của chúng. Hệ số điện của TGO, hệ số theo từng loại nhiên liệu, GWP của môi chất lạnh. Cuốn sổ này về sau dùng được nguyên vẹn cho khâu thẩm định.
Ngày 31 đến 60 — lấp những lỗ hổng hệ thống không lấp được bằng vận hành con người
Thứ hiện ra trong tháng thứ hai là những hạng mục hệ thống không lấp nổi. Lượng môi chất lạnh đã nạp, số bình LPG, nhiên liệu của máy phát đi thuê. Xin đừng tìm cách đưa một hệ thống mới vào đây. Thứ cần thiết là một quy trình chốt hàng tháng đã quy định rõ ai nộp cái gì vào lúc nào.
Trong các dự án của chúng tôi, việc bắt đầu là làm một biểu mẫu nhập liệu gói gọn trong một trang A4 và ấn định ngày chốt. Bảo trì nộp hồ sơ nạp môi chất lạnh trước ngày 5 hàng tháng, mua hàng nộp lượng nhiên liệu đã mua, hành chính nộp lượng xăng dầu của xe công ty. Chỉ bấy nhiêu là lấp được phần lớn Scope 1.
Song song đó, ở phía hệ thống thì triển khai bảng dữ liệu chủ hệ số có thời hạn hiệu lực, và gắn cho dữ liệu hoạt động các thuộc tính cơ sở, điểm đo, kỳ và phân loại Scope. Phần lấy giá trị từ hệ thống giám sát điện sẵn có thường dùng được ngay cơ sở dữ liệu hoặc bản xuất CSV đang có, nên không thành cuộc cải tạo quy mô lớn.
Ngày 61 đến 90 — chạy chốt sổ hai vòng
Tháng thứ ba là chạy thử vận hành. Hãy thực sự chạy quy trình chốt hàng tháng hai vòng và kiểm tra những điều sau.
- Lượng điện đã tổng hợp có khớp với giá trị trên hóa đơn của công ty điện lực hay không (nếu không khớp, nguyên nhân thường là lệch giữa kỳ ghi chỉ số và ngày chốt)
- Các đầu vào của Scope 1 có về đủ trước hạn hay không
- Đã quyết được phương pháp ước tính khi xuất hiện dữ liệu khuyết hay chưa
- Mẫu báo cáo có khớp với yêu cầu của bên nhận báo cáo hay không
Lý do phải chạy hai vòng là vì vòng đầu chắc chắn sẽ sót thứ gì đó. Đưa hạng mục sót ở vòng đầu vào quy trình vận hành, rồi cho chạy trót lọt ở vòng hai. Làm đến đây thì con số mới thực sự đưa được ra bên ngoài.
Chi phí phụ thuộc vào cái gì — những hạng mục làm số tiền biến động khi trực quan hóa phát thải CO2
Bây giờ là chuyện báo giá. Khi chúng tôi liệt kê chi phí trong các dự án, thứ làm số tiền biến động mạnh không phải là số lượng điểm đo. Thứ làm nó biến động là sáu hạng mục sau.
| Hạng mục | Tiền đổ vào đâu | Có tỷ lệ thuận với số điểm đo không |
|---|---|---|
| 1. Định nghĩa ranh giới và bên nhận báo cáo | Rà soát hợp đồng và hóa đơn, phối hợp với các bộ phận liên quan | Không (do số cơ sở và độ phức tạp của hợp đồng quyết định) |
| 2. Bảng dữ liệu chủ hệ số và logic tính toán | Quản lý thời hạn hiệu lực, phân loại Scope, triển khai quy tắc phân bổ | Không (làm một lần là xong) |
| 3. Thu thập dữ liệu từ hệ thống sẵn có | Lấy dữ liệu từ BEMS, PLC, công tơ điện, khảo sát cơ sở dữ liệu hiện có | Có một phần (phụ thuộc rất nhiều vào cách xây dựng sẵn có) |
| 4. Bổ sung điểm đo | Công tơ điện, CT, truyền thông, thi công trong tủ, điều phối cắt điện | Có |
| 5. Gắn kết với sản lượng thực tế | Kết nối với hệ thống quản lý sản xuất, thống nhất ngày chốt, logic phân bổ | Không (do số hệ thống cần kết nối quyết định) |
| 6. Công sức đáp ứng thẩm định | Sắp xếp bằng chứng, lập văn bản căn cứ tính toán, trao đổi với cơ quan thẩm định | Không (do mức thẩm định quyết định) |
Nhìn cột bên phải sẽ thấy thứ tỷ lệ thuận với số điểm đo chủ yếu là mục 4, còn mục 3 chỉ chịu ảnh hưởng một phần tùy cách xây dựng thiết bị sẵn có. Vậy mà thứ nhà máy đi lấy báo giá đầu tiên thường lại là mục 4. Và thứ khiến số tiền không đoán được là mục 3 và mục 5.
Mục 3 biến động lớn tùy thiết bị sẵn có. Giữa một tủ điện lấy được giá trị một cách suôn sẻ qua Modbus hay OPC UA và một tủ bị đóng kín trong giao thức riêng của hãng, khối lượng công việc chênh nhau tới cả chục lần. Đây là phần không xem hiện trường thì không ra được báo giá, cũng là hạng mục hay bị để nguyên chữ “tính riêng” mà vẫn tiến hành.
Mục 5 phát sinh ngay khoảnh khắc báo cáo theo đơn vị sản phẩm trở thành yêu cầu. Như chương trước đã nói, nếu phân bổ theo sản lượng hoặc theo khối lượng là đủ thì chỉ cần nhận dữ liệu sản lượng sẵn có theo tháng. Còn khi bị yêu cầu tới mức phân bổ theo số đo thực tế thì nó đi kèm với việc bổ sung điểm đo ở mục 4 và số tiền nhảy vọt. Vì vậy việc có kiểm tra bên nhận báo cáo trước hay không sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới chi phí.
Cách xử lý các biện pháp khuyến khích đầu tư
Ủy ban Đầu tư Thái Lan (BOI) có các biện pháp khuyến khích đầu tư dành cho việc đổi mới thiết bị góp phần tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải khí nhà kính. Tuy nhiên do điều kiện áp dụng được cập nhật theo từng năm, bài viết này không nêu số năm miễn thuế hay tỷ lệ cụ thể. Nếu lập tờ trình dựa trên giả định có ưu đãi ngay từ giai đoạn cân nhắc thì có khả năng điều kiện đã thay đổi và tiền đề sụp đổ. Xin kiểm tra điều kiện mới nhất trên trang chính thức của BOI, và nếu cần thì tham vấn chuyên gia trước khi nộp hồ sơ.
Ngoài ra, một điểm thực tiễn đáng nhớ để dễ lập tờ trình là đối tượng dễ được hưởng ưu đãi thường là thiết bị đo và thiết bị tiết kiệm năng lượng ở mục 4, còn phần phần mềm và công sức như mục 1, 2, 5 và 6 thì nhiều khi nằm ngoài đối tượng.
Về cách gắn kết các chủ đề cắt giảm cụ thể như rò rỉ khí nén với việc đo lường, chúng tôi đã trình bày trong bài biện pháp xử lý rò rỉ khí nén của máy nén khí trong nhà máy. Cách tư duy khi quy hiệu quả cắt giảm thành con số là giống nhau.
Ba thất bại cần dập tắt trước khi hướng tới nhà máy trung hòa carbon
Cuối cùng, xin nêu ba nguyên nhân phải làm lại mà chúng tôi đã thực sự chứng kiến. Không cái nào là vấn đề kỹ thuật.
Thất bại 1 — bắt đầu từ mục tiêu cắt giảm và để bên nhận báo cáo lại sau
Quyết trước mục tiêu kiểu “đến năm nào giảm bao nhiêu phần trăm”, rồi từ đó tính ngược ra kế hoạch đo lường. Thoạt nhìn thì rất chính đáng, nhưng theo trình tự này thì độ chi tiết không được xác định. Vì nếu để cắt giảm thì càng chi tiết càng tốt, nên số tiền đầu tư không bao giờ có trần.
Rồi nửa năm sau, khi khách hàng gửi yêu cầu liên quan CBAM và nói “hãy đưa ra con số trên mỗi sản phẩm”, tình huống xảy ra là dù đang nắm dữ liệu kWh chi tiết theo từng thiết bị nhưng không hạ được xuống đơn vị sản phẩm, vì sản lượng thực tế và mốc thời gian không kết nối với nhau. Đo rất chi tiết mà không đưa về được dạng được yêu cầu. Đây là kiểu phải làm lại phổ biến nhất.
Biện pháp rất đơn giản, là kiểm kê bên nhận báo cáo trước. Chỉ cần điền đầy một trang bảng ở chương trước là độ chi tiết cần thiết đã được xác định.
Thất bại 2 — nhúng cứng hệ số phát thải vào hệ thống
Năm 2026 có đợt sửa đổi hệ số của TGO, và có cả khoảng gia hạn đến ngày 31 tháng 3. Tại những nhà máy giữ hệ số như một trường trong màn hình cài đặt, đã xảy ra tai nạn là dữ liệu quá khứ bị ghi đè khi chuyển đổi và không còn truy được tháng nào đã báo cáo bằng hệ số nào.
Hệ số sẽ còn được cập nhật trong tương lai. Hãy nắm giữ nó như bảng dữ liệu chủ có thời hạn hiệu lực, ở dạng có thể tái hiện giá trị báo cáo trong quá khứ bất cứ lúc nào. Đây là quyết định thiết kế của bên xây dựng hệ thống, nên chỉ cần viết một dòng vào tài liệu yêu cầu đặt hàng là phòng tránh được. “Hệ số phát thải phải được quản lý như bảng dữ liệu chủ có ngày bắt đầu áp dụng, và khi tính lại cho kỳ quá khứ phải dùng hệ số của thời điểm đó.” Một câu này là đủ.
Thất bại 3 — chỉ làm dashboard mà không lưu bằng chứng
Một dashboard đẹp có tác dụng khi giải thích trong nội bộ. Nhưng thứ cơ quan thẩm định nhìn không phải là màn hình, mà là hồ sơ cho biết con số đó đến từ đâu.
Cụ thể là giá trị tổng hợp điện năng phải khớp với hóa đơn của công ty điện lực, nếu không khớp thì phải giải thích được lý do (chẳng hạn lệch kỳ ghi chỉ số), và tháng có dữ liệu khuyết thì phải có ghi chép về phương pháp ước tính. Những thứ này không thể tạo ra sau. Đây là loại thông tin chỉ có thể lưu lại ngay lúc chốt sổ hàng tháng.
Vấn đề tương tự cũng xảy ra khi xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc. Dữ liệu thì có, nhưng vì chưa định nghĩa nó là bằng chứng cho cái gì nên đến lúc bị yêu cầu nộp lại không dùng được. Về cách triển khai, chúng tôi đã sắp xếp trong bài chi phí và cách triển khai xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc, nên cách tư duy về thiết kế bằng chứng cũng có thể tham khảo tại đó.
Câu hỏi thường gặp
Trực quan hóa lượng phát thải CO2 là gì?
Là cơ chế nhân dữ liệu hoạt động của nhà máy (kWh điện, lượng nhiên liệu sử dụng, lượng môi chất lạnh đã nạp và tương tự) với hệ số phát thải để ra con số theo đơn vị tCO2e, rồi tổng hợp liên tục ở dạng có thể giải trình ra bên ngoài. Nó hay bị nhầm với giám sát điện và năng lượng, nhưng thứ mà giám sát tạo ra chỉ là dữ liệu hoạt động, không phải bản thân lượng phát thải. Để thành lượng phát thải thì cần thêm ba thứ là hệ số (giá trị của cơ quan nào, thời điểm nào), ranh giới (tính đến đâu là phát thải của mình) và bằng chứng (con số đó đến từ đâu).
Scope 1 và Scope 2 khác nhau thế nào?
Scope 1 là phát thải do những gì doanh nghiệp trực tiếp đốt và trực tiếp làm rò rỉ. Thuộc nhóm này có nhiên liệu lò hơi, dầu diesel của máy phát dự phòng, xe nâng chạy LPG, xăng của xe công ty, rò rỉ môi chất lạnh từ điều hòa và máy lạnh. Scope 2 là phát thải đi kèm việc sử dụng năng lượng mua vào, tại nhà máy ở Thái Lan chủ yếu là điện mua từ PEA và MEA. Ngoài ra còn Scope 3 gồm phần thượng nguồn của điện mua vào (công đoạn nhà máy điện khai thác và vận chuyển nhiên liệu), vật liệu mua vào, vận chuyển và chất thải, tồn tại như phát thải bên ngoài thiết bị của doanh nghiệp. TGO đưa ra hệ số áp dụng từ ngày 1 tháng 1 năm 2026 là 0,4750 kgCO2e/kWh cho Scope 2 của điện mua vào và 0,0812 kgCO2e/kWh cho Scope 3 thượng nguồn.
Tính lượng phát thải CO2 của nhà máy như thế nào?
Nếu chỉ tính điện mua vào thì chỉ cần nhân kWh hàng tháng với hệ số phát thải. Lấy mô hình giả định là nhà máy dùng 500.000 kWh một tháng, Scope 2 bằng 500.000 × 0,4750 = 237.500 kgCO2e (237,5 tấn), Scope 3 thượng nguồn bằng 500.000 × 0,0812 = 40.600 kgCO2e (40,6 tấn), quy ra cả năm lần lượt là 2.850 tấn và 487,2 tấn. Đây là giá trị giả định để minh họa, không phải con số của một nhà máy có thật. Vì phép tính này chỉ cần một con số duy nhất là kWh hàng tháng, nên nếu chỉ để xuất giá trị cả năm của toàn nhà máy thì mười hai tờ hóa đơn của công ty điện lực là đủ. Khi cộng thêm Scope 1 thì cần thêm lượng sử dụng theo từng loại nhiên liệu và hệ số riêng của từng loại.
Ở Thái Lan có bắt buộc phải có chứng nhận dấu chân carbon không?
Xét về nghĩa vụ pháp lý thì ở thời điểm hiện tại là không bắt buộc. Luật Biến đổi Khí hậu của Thái Lan (Climate Change Act) vẫn chưa được ban hành, mới ở giai đoạn nội các phê duyệt về nguyên tắc ngày 2 tháng 12 năm 2025, và dự kiến qua thẩm định của Hội đồng Nhà nước rồi mới tới thảo luận tại Quốc hội. Thời điểm có hiệu lực dự kiến vào nửa đầu năm 2027, còn chi tiết nghĩa vụ báo cáo thì chờ hoàn thiện văn bản dưới luật. Mặt khác, CFO (Carbon Footprint for Organization) của TGO đã đi trước với tư cách một chế độ tự nguyện. Đây là cơ chế tuân theo ISO 14064-1:2018 và GHG Protocol, được đơn vị thẩm định do TGO công nhận thẩm định rồi đăng ký và công bố tại TGO. Vì ngày càng nhiều tình huống đối tác và bên mời thầu yêu cầu thẩm định độc lập, nên cách hiểu sát thực tế là chưa bắt buộc nhưng đang dần trở thành điều kiện trong thực tiễn kinh doanh.
Đã lắp hệ thống giám sát điện thì có xuất được ngay lượng phát thải CO2 không?
Nếu là giá trị cả năm của toàn nhà máy thì không cần giám sát điện, chỉ hóa đơn của công ty điện lực cũng xuất được. Ngược lại, dù đã lắp giám sát điện mà chưa quản lý được hệ số, chưa định nghĩa ranh giới và chưa sắp xếp bằng chứng thì con số vẫn không đưa ra ngoài được. Giám sát điện phát huy tác dụng ở giai đoạn cần phân bổ xuống đơn vị sản phẩm hoặc đơn vị công đoạn. Ở giai đoạn này, vì lượng điện trong kỳ và sản lượng thực tế phải kết nối theo cùng một ngày chốt, nên thiết kế đối chiếu với hệ thống quản lý sản xuất còn quan trọng hơn bản thân dữ liệu đo.
Nên đo lượng phát thải CO2 chi tiết tới đâu?
Tới mức độ chi tiết mà bên nhận báo cáo yêu cầu. Với hoạt động cắt giảm nội bộ thì xem theo đơn vị thiết bị và theo thời gian thực là có giá trị, nhưng không cần thẩm định. Với công bố hợp nhất của công ty mẹ thì theo cơ sở và hàng tháng, với bảng câu hỏi Scope 3 của khách hàng thì toàn nhà máy một năm một lần, với đăng ký CFO của TGO thì toàn tổ chức kèm thẩm định độc lập, và chỉ các yêu cầu liên quan CBAM mới đòi theo đơn vị sản phẩm. Thứ nên làm chi tiết không phải số lượng điểm đo mà là cách nắm giữ dữ liệu, gồm việc giữ hệ số như bảng dữ liệu chủ có thời hạn hiệu lực, gắn cho dữ liệu hoạt động các thuộc tính cơ sở, điểm đo, kỳ và phân loại Scope, và quyết trước khóa đối chiếu với sản lượng thực tế. Quyết ba thứ này trước thì độ chi tiết luôn có thể nâng lên sau.
Tổng kết
Đo kWh và báo cáo tCO2e là hai công việc khác nhau. Thứ mà giám sát điện và giám sát năng lượng tạo ra là dữ liệu hoạt động, không phải lượng phát thải. Để thành lượng phát thải thì cần thêm ba thứ là hệ số, ranh giới và bằng chứng.
Năm 2026 là năm các mốc chính sách chồng lên nhau. CBAM của EU bước vào áp dụng chính thức từ ngày 1 tháng 1, hệ số điện của TGO cũng được cập nhật từ đúng ngày đó, thành 0,4750 kgCO2e/kWh cho Scope 2 và 0,0812 kgCO2e/kWh cho Scope 3 thượng nguồn (đến hết ngày 31 tháng 3 vẫn được dùng hệ số cũ). Tại Nhật Bản, Luật Thúc đẩy GX sửa đổi có hiệu lực từ ngày 1 tháng 4 và GX-ETS vận hành chính thức từ năm tài chính 2026. Trong khi đó Luật Biến đổi Khí hậu của Thái Lan vẫn chưa được ban hành, mới ở giai đoạn nội các phê duyệt về nguyên tắc ngày 2 tháng 12 năm 2025, dự kiến có hiệu lực vào nửa đầu năm 2027.
Và đây là điều bài viết này muốn truyền đạt nhất. Độ chi tiết của trực quan hóa không do mục tiêu cắt giảm mà do bên nhận báo cáo quyết định. Hoạt động cắt giảm nội bộ, công bố hợp nhất của công ty mẹ, bảng câu hỏi Scope 3 của khách hàng, đăng ký CFO của TGO, yêu cầu CBAM đến qua khách hàng. Năm đối tượng này không giống nhau về độ chi tiết cần thiết, mức thẩm định lẫn tần suất cập nhật. Nếu đi lấy báo giá cảm biến khi chưa xác định bên nhận báo cáo thì sẽ phải làm lại theo kiểu đo rất chi tiết mà không đưa về được dạng được yêu cầu.
Việc phải làm đầu tiên không phải là chọn thiết bị. Hãy viết bên nhận báo cáo ra giấy, xem hợp đồng và bảng kê hóa đơn để vạch lằn ranh, rồi lập một trang sổ hệ số. Tới đây thì hoàn toàn không tốn đầu tư. Điểm đo chỉ cần tăng vào đúng lúc bên nhận báo cáo yêu cầu là vẫn kịp.
TOMAS TECH đang xây dựng hệ thống quản lý sản xuất và nền tảng dữ liệu năng lượng cùng môi trường cho các doanh nghiệp sản xuất Nhật Bản tại Thái Lan. Chúng tôi hoan nghênh cả những trao đổi ở giai đoạn cân nhắc rất sớm, kiểu như “khách hàng vừa gửi bảng câu hỏi nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu” hay “muốn biết hệ thống giám sát điện sẵn có dùng được cho tính toán CO2 hay không”. Nếu quý vị mang theo tình trạng đo lường hiện tại và bản gốc của yêu cầu đã nhận, chúng tôi có thể đồng hành ngay từ bước cùng sắp xếp độ chi tiết cần thiết bằng cách tính ngược từ bên nhận báo cáo. Xin liên hệ với chúng tôi tại đây.
Tài liệu tham khảo
- Ủy ban châu Âu, Tổng cục Thuế và Liên minh Hải quan — Carbon Border Adjustment Mechanism
- Norton Rose Fulbright — Thailand’s Climate Change Bill, Latest Updates
- The Nation Thailand — TGO sets new emission factors for electricity generation and transmission
- Trang chính thức của Tổ chức Quản lý Khí nhà kính Thái Lan (TGO)
- Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản — Chế độ mua bán phát thải (GX-ETS)
- Trang chính thức của Ủy ban Đầu tư Thái Lan (BOI)