Blog

2026.08.21

Quan trắc khí thải liên tục CEMS tại Thái Lan | Quy định, OT và chi phí

Quan trắc khí thải liên tục CEMS tại Thái Lan | Quy định, OT và chi phí

Quan trắc khí thải liên tục (CEMS) đang trở thành chủ đề được các nhà máy có vốn Nhật Bản đặt tại Thái Lan quan tâm nhiều hơn hẳn trong thời gian gần đây. Nếu nhà máy của bạn tại Thái Lan có nồi hơi, lò đốt chất thải hay lò nấu kim loại, rất có thể cơ sở đó đã thuộc diện bắt buộc phải lắp hệ thống quan trắc liên tục các chất ô nhiễm không khí và truyền dữ liệu trực tuyến về Cục Công nghiệp (Department of Industrial Works, viết tắt là DIW) thuộc Bộ Công nghiệp Thái Lan. Cần nói rõ ngay từ đầu rằng đây là quy định của Thái Lan, không phải quy định của Việt Nam. Tuy nhiên, kể từ khi được áp dụng trên toàn quốc vào năm 2023, phạm vi ngành nghề và khu vực địa lý chịu điều chỉnh vẫn liên tục được mở rộng theo từng giai đoạn, nên ngày càng nhiều nhà máy từng nghĩ “chúng tôi không thuộc diện áp dụng” lại bất ngờ rơi vào phạm vi điều chỉnh sau một lần rà soát ngưỡng công suất hoặc bổ sung địa bàn. Bài viết này hệ thống lại quá trình mở rộng của quy định, cách tự kiểm tra xem nhà máy có thuộc diện áp dụng hay không, cùng với những điểm cốt lõi về kỹ thuật OT/IoT và chi phí khi triển khai.

Quan trắc khí thải liên tục (CEMS) là gì

CEMS (Continuous Emission Monitoring System) là cơ chế đo liên tục các chất ô nhiễm không khí phát thải từ ống khói của nhà máy mà không cần dừng thiết bị, đồng thời truyền liên tục các giá trị đo được về hệ thống trực tuyến của cơ quan quản lý. Về mặt cấu tạo, đây là sự phối hợp của một chuỗi thiết bị OT: bộ phân tích (analyzer) lấy mẫu và đo khí trong đường khói, bộ ghi dữ liệu (data logger) chuẩn hóa số liệu, rồi truyền qua đường truyền viễn thông về Trung tâm Giám sát Môi trường Công nghiệp (Industrial Environmental Monitoring Center, viết tắt là IEMC) của DIW Thái Lan.

Quan trắc khí thải liên tục CEMS tại Thái Lan | Quy định, OT và chi phí - figure 1

Các chất ô nhiễm được đo

Những thông số tiêu biểu mà CEMS đo gồm lưu huỳnh dioxit (SO2), các oxit nitơ (NOx, quy đổi về NO2), cacbon monoxit (CO), nồng độ oxy (O2, đóng vai trò khí chuẩn để hiệu chỉnh các giá trị khác) và độ mờ đục (opacity) tương ứng với nồng độ bụi trong khí thải. Tùy theo ngành nghề, danh mục này có thể được bổ sung thêm lưu lượng và nhiệt độ khí thải để tính được tải lượng phát thải theo khối lượng (kg/giờ chẳng hạn). Tất cả đều là những chất ô nhiễm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người và chất lượng không khí, tức là đối tượng đo hoàn toàn khác với khí nhà kính (GHG).

Đơn vị báo cáo được quy định riêng theo từng ngành và từng chất. Thông thường hệ thống không gửi thẳng giá trị tức thời, mà phải chuẩn hóa thành giá trị trung bình trong một khoảng thời gian nhất định (trung bình trượt hoặc trung bình giờ) rồi mới truyền đi. Việc xử lý phép trung bình này được thực hiện ở phía bộ phân tích hay ở phía bộ ghi dữ liệu là điểm cần xác nhận ngay khi chọn model thiết bị. Khi phải liên kết với PLC sẵn có, thiết kế tốt là dồn toàn bộ logic tính toán về một phía duy nhất để tránh cài đặt trùng lặp cùng một phép tính ở hai nơi.

Khác biệt so với báo cáo khí nhà kính (GHG) Scope 1-2

Điểm rất dễ nhầm lẫn là sự khác nhau giữa CEMS và việc trực quan hóa lượng phát thải CO2 hay kiểm kê khí nhà kính Scope 1-2. Như chúng tôi đã trình bày trong bài viết trực quan hóa lượng phát thải CO2 của nhà máy và chi phí kiểm kê Scope 1-2, kiểm kê Scope 1-2 là một cơ chế mang tính kế toán, trong đó lượng phát thải khí nhà kính được “tính toán” từ lượng nhiên liệu và lượng điện tiêu thụ rồi công bố ra bên ngoài.

Ngược lại, CEMS trong bài viết này là cơ chế “đo thực tế” trực tiếp tại ống khói đối với các chất ô nhiễm không khí như SOx, NOx, bụi, sau đó báo cáo gần như theo thời gian thực cho cơ quan quản lý theo yêu cầu pháp luật. Mục đích, đối tượng đo và nơi nhận báo cáo đều khác nhau, nên không có chuyện triển khai cái này thì khỏi cần cái kia. Không ít nhà máy phải đáp ứng cả hai nhu cầu cùng lúc, và khi đó phương án thực tế là dùng chung mạng cảm biến và nền tảng thu thập dữ liệu để kéo chi phí xuống.

Quy định của Thái Lan đã mở rộng như thế nào

Phạm vi bắt buộc lắp CEMS tại Thái Lan đã mở rộng đáng kể trong vài năm trở lại đây. Nắm được mốc thời gian sẽ giúp doanh nghiệp không bỏ lỡ thời điểm nhà máy mình bị đưa vào diện áp dụng.

Thời điểmNội dung
Công bố công báo ngày 10 tháng 6 năm 2022, có hiệu lực ngày 11 tháng 6 năm 2023Mở rộng ra phạm vi toàn quốc nghĩa vụ báo cáo khí thải ống khói vốn trước đó chỉ giới hạn ở một số khu vực. Đối tượng gồm các nhà máy có nồi hơi sinh hơi từ 30 tấn/giờ trở lên hoặc nhiệt lượng đầu vào từ 100 MMBTU/giờ trở lên, cùng các nhà máy nhiệt điện, lọc dầu, luyện kim, thiêu đốt chất thải, thủy tinh, xi măng, bột giấy và giấy
Công bố ngày 8 tháng 8 năm 2024, có hiệu lực ngày 9 tháng 8 năm 2024 (bản Phật lịch 2567)Ban hành thông báo sửa đổi mở rộng đối tượng lên 13 ngành. Danh mục chất ô nhiễm phải đo được quy định theo phụ lục riêng cho từng ngành
Tháng 2 năm 2026 (Phật lịch 2569)Ban hành quy định bổ sung áp dụng cho các nhà máy nằm trong địa bàn thủ đô Bangkok, siết chặt hơn việc giám sát và công khai dữ liệu tại khu vực đô thị

Bảng trên cho thấy quy định của Thái Lan đã mở rộng dần theo hai trục song song: mở rộng địa bàn áp dụng và mở rộng ngành nghề cùng ngưỡng quy mô. Động lực phía sau là mối quan tâm ngày càng lớn của xã hội đối với PM2.5 và chất lượng không khí, đặc biệt tại vùng đô thị Bangkok. Trong bối cảnh nồng độ bụi mịn PM2.5 tăng cao vào mùa khô được báo chí phản ánh hằng năm, DIW đang đẩy mạnh chủ trương công khai dữ liệu phát thải từ ống khói nhà máy, và đã xây dựng cả cơ chế công bố dữ liệu thu thập qua hệ thống trực tuyến IEMC ra ứng dụng điện thoại. Nói cách khác, CEMS đang chuyển từ một chế độ “chỉ để báo cáo cho cơ quan quản lý” sang một chế độ mà “cư dân lân cận và đối tác kinh doanh đều có thể tra cứu tình trạng phát thải”.

Với các nhà máy thực phẩm, hóa chất, dệt nhuộm, giấy, cao su hay linh kiện điện tử có nồi hơi, nồi hấp, lò sấy hoặc lò đốt tại Thái Lan, dù ban đầu không thuộc diện áp dụng thì vẫn cần định kỳ kiểm tra lại xem mình có bị đưa vào phạm vi mới sau các đợt rà soát ngưỡng quy mô và điều kiện địa bàn hay không.

Một tình huống rất hay gặp là như sau. Một nhà máy chế biến thực phẩm ban đầu vận hành nồi hơi công suất khoảng 20 tấn hơi/giờ, sau đó do nhu cầu tăng nên thay mới lên nồi hơi thuộc lớp 35 tấn/giờ. Kết quả là thiết bị sau khi nâng cấp vượt ngưỡng quy mô và nhà máy chuyển thành đối tượng bắt buộc lắp CEMS, nhưng chỉ đến khi công trình cải tạo hoàn tất thì doanh nghiệp mới nhận ra điều đó. Ở giai đoạn trình duyệt đầu tư thay nồi hơi, nội dung so sánh thường tập trung vào hiệu suất điện và chi phí nhiên liệu, còn việc có phải đáp ứng CEMS hay không lại ít khi nằm trong danh mục xem xét. Nếu ngay từ khâu lập kế hoạch đầu tư đã đưa việc đối chiếu ngưỡng quy mô vào, và bố trí sẵn ngân sách cùng tiến độ lắp đặt song song với công trình thay nồi hơi, doanh nghiệp sẽ tránh được cảnh phải xoay xở thêm vốn và thời gian ngay trước ngày chạy máy.

Cách kiểm tra nhà máy có thuộc diện áp dụng hay không

Khi còn phân vân, hãy lần lượt rà theo các hạng mục kiểm tra dưới đây để dễ hình dung.

  • Nhà máy có nồi hơi, lò sấy, lò thiêu đốt, lò nấu kim loại hoặc thiết bị đốt nào xả khí thải qua ống khói hay không
  • Nếu là nồi hơi thì lượng hơi sinh ra có đạt từ 30 tấn/giờ trở lên, hoặc nhiệt lượng đầu vào có vượt 100 MMBTU/giờ hay không
  • Ngành nghề có thuộc nhiệt điện, lọc dầu, luyện kim, thiêu đốt chất thải, thủy tinh, xi măng, bột giấy và giấy, hoặc một trong 13 ngành được bổ sung tại lần sửa đổi năm 2024 hay không
  • Địa điểm nhà máy có nằm trong địa bàn thủ đô Bangkok, hoặc có bị quy chế quản lý khu công nghiệp yêu cầu báo cáo khí thải bổ sung hay không
  • Báo cáo đánh giá tác động môi trường (EIA) hoặc các điều kiện kèm theo giấy phép vận hành nhà máy tại Thái Lan có ghi nội dung quan trắc khí thải hay không

Nếu rơi vào bất kỳ trường hợp nào ở trên, chúng tôi khuyến nghị gửi câu hỏi riêng đến văn phòng DIW địa phương phụ trách hoặc ban quản lý khu công nghiệp. Với các nhà máy nằm sát ngưỡng quy mô, việc rà soát lại năng lực thiết bị khi tăng sản lượng chính là nguyên nhân phổ biến khiến vượt ngưỡng, nên mỗi lần thay đổi kế hoạch sản xuất đều nên kiểm tra lại.

Kiến trúc kỹ thuật OT của hệ thống CEMS

CEMS không phải một thiết bị đo đơn lẻ mà là một hệ thống nhỏ gồm nhiều thiết bị OT phối hợp với nhau. Khi cân nhắc triển khai, việc tách thành bốn lớp dưới đây sẽ giúp nắm bắt bức tranh tổng thể dễ dàng hơn.

Quan trắc khí thải liên tục CEMS tại Thái Lan | Quy định, OT và chi phí - figure 2

Lớp 1 – Bộ phân tích (analyzer)

Bộ phân tích được lắp trực tiếp trên đường khói hoặc thông qua đường lấy mẫu, dùng để đo nồng độ các khí SO2, NOx, CO, O2 và độ mờ đục. Về phương thức lắp đặt, có kiểu “in-situ” cắm đầu dò trực tiếp vào đường khói, và kiểu “extractive” hút khí ra để đo trong phòng phân tích. Mức độ phù hợp của mỗi kiểu phụ thuộc vào nhiệt độ, độ ẩm và lượng bụi trong khí thải.

Phương thứcĐiều kiện phù hợpLưu ý
Kiểu in-situ (đo tại chỗ)Thiết bị có đường khói tương đối lớn, dễ bố trí không gian lắp đặtVì đầu dò tiếp xúc trực tiếp với khí ngay cả trong môi trường nhiệt độ cao, độ ẩm cao và nhiều bụi, nên phải chọn model có độ bền phù hợp
Kiểu extractive (hút mẫu)Thiết bị có đường khói hẹp, hoặc muốn lập phòng phân tích riêng để quản lý tập trung nhiều đường khóiNếu lơ là việc quản lý ngưng tụ trong đường lấy mẫu và giữ nhiệt cho heated line thì giá trị đo rất dễ mất ổn định

Dù chọn phương thức nào thì điểm chung quan trọng nhất vẫn là lựa chọn vị trí lấy mẫu phù hợp với hình dạng đường khói hiện hữu. Nếu đặt điểm lấy mẫu ở chỗ dòng khí thải bị lệch, hệ thống sẽ đo mãi những con số không mang tính đại diện, và việc hiệu chuẩn cũng không giải quyết được vấn đề. Khi cân nhắc lắp bổ sung vào thiết bị có sẵn, chúng tôi khuyến nghị kiểm tra sơ bộ dòng khí bên trong đường khói trước khi thi công lắp đặt.

Lớp 2 – Bộ ghi dữ liệu và xử lý tính toán

Lớp này nhận tín hiệu từ bộ phân tích (dạng 4-20mA hoặc truyền thông số như Modbus), rồi thực hiện hiệu chỉnh theo oxy, quy đổi đơn vị và tính giá trị trung bình theo thời gian. Với những nhà máy đã có sẵn nền tảng PLC hoặc SCADA, cách định vị bộ ghi dữ liệu này trong mạng OT chính là điểm rẽ nhánh của thiết kế. Đây cũng chính là bài toán chúng tôi đã bàn trong bài viết về hệ thống giám sát điện năng cho nhà máy, khi phải chốt ngay từ giai đoạn thiết kế rằng dữ liệu cảm biến thu thập liên tục sẽ đi chung hạ tầng với hệ thống hiện có hay tách ra một tuyến riêng. Riêng với CEMS, việc cho đi ké lên SCADA sẵn có hay tách hẳn thành hệ thống độc lập chuyên dụng cho báo cáo pháp lý còn liên quan trực tiếp đến phạm vi trách nhiệm khi mất dữ liệu, sẽ đề cập ở phần sau.

Lớp 3 – Truyền thông và an ninh mạng

Về nguyên tắc, dữ liệu phải được truyền trực tuyến và gần như theo thời gian thực về IEMC của DIW. Điểm hay bị bỏ sót ở đây là: một khi đường truyền phục vụ báo cáo pháp lý đã kết nối ra mạng bên ngoài, nó đương nhiên trở thành đối tượng của an ninh OT. Theo tư duy phân vùng mà chúng tôi đã trình bày trong bài viết an ninh OT cho nhà máy tại Thái Lan, nguyên tắc cơ bản là tách logic tuyến truyền thông của CEMS khỏi mạng điều khiển sản xuất, và thiết lập luật tường lửa chỉ cho phép đúng những kết nối cần thiết. Nếu tuyến có nghĩa vụ báo cáo lại nằm chung phân đoạn mạng với mạng điều khiển dây chuyền sản xuất, thì phạm vi ảnh hưởng của một sự cố an ninh hoàn toàn có thể lan sang cả hệ thống báo cáo pháp lý.

Lớp 4 – Ghi nhận và khắc phục khi mất dữ liệu hoặc có bất thường

Khi xảy ra khoảng thời gian không truyền được dữ liệu do mất kết nối, mất điện hay đang hiệu chuẩn, nhà máy cần có quy tắc vận hành để ghi lại lý do và thời gian tới khi khôi phục, đồng thời báo cáo DIW nếu cần. Bản thân việc mất dữ liệu không lập tức bị coi là vi phạm, nhưng nếu thời gian mất dữ liệu kéo dài mà không giải thích được, hoặc lặp lại nhiều lần, nhà máy sẽ dễ trở thành đối tượng thanh tra hiện trường của cơ quan quản lý. Điểm mấu chốt là phải thiết kế CEMS như “một cơ chế vận hành liên tục” bao gồm cả nguồn điện dự phòng, việc đặt hàng phụ tùng thay thế và quản lý lịch hiệu chuẩn, chứ không đơn thuần là lắp một thiết bị đo.

Chi phí lắp đặt

Chi phí CEMS thay đổi rất nhiều tùy theo số lượng loại khí phải đo, hiện trạng thiết bị sẵn có và mức độ hoàn thiện của hạ tầng truyền thông. Để dễ so sánh báo giá, nên bóc tách chi phí theo năm lớp dưới đây.

Lớp chi phíNội dung tham khảoCảm nhận về chi phí
Bản thân bộ phân tíchTrọn bộ thiết bị phân tích tương ứng số thông số đo như SO2, NOx, CO, O2, độ mờ đụcChiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thể
Hệ thống lấy mẫuĐầu dò, heated line, cơ cấu tách ẩm và tách bụi (trường hợp dùng kiểu extractive)Mức trung bình
Bộ ghi dữ liệu và thiết bị truyền thôngThiết bị tính toán, modem truyền thông, giao diện kết nối với thiết bị OT sẵn cóMức trung bình
Thi công lắp đặtKhoan đường khói, dựng giá đỡ, đi cáp, thi công đấu nối vào tuyến hiện hữuBiên độ dao động lớn tùy điều kiện hiện trường
Hiệu chuẩn và bảo trì vận hànhHiệu chuẩn định kỳ (khí zero và khí span), thay vật tư tiêu hao, bộ máy vận hành giám sát truyền thôngChi phí thường niên liên tục

Chi phí thi công lắp đặt là hạng mục dễ biến động nhất, phụ thuộc vào kết cấu đường khói hiện hữu và việc có thể thi công mà không dừng vận hành hay không. Trường hợp phải đấu nối trong khi vẫn duy trì sản xuất, thông lệ là lên kế hoạch trùng với đợt bảo dưỡng định kỳ (shutdown maintenance). Theo kinh nghiệm thực tế, nhiều nhà máy dự trù khoảng vài tháng đến nửa năm tính từ lúc bắt đầu cân nhắc đến khi chính thức vận hành, nếu có kèm cải tạo thiết bị hiện hữu.

Chi phí bảo trì vận hành cũng là khoản hay bị bỏ quên. Hiệu chuẩn định kỳ bằng khí zero và khí span không chỉ tốn vật tư tiêu hao, mà trong lúc hiệu chuẩn còn phải tạm tách bộ phân tích khỏi tuyến đo, nên cần đưa vào lịch năm cùng với kế hoạch sản xuất và quy tắc ghi nhận mất dữ liệu. Một điểm đặc thù của các cơ sở ở nước ngoài là thời gian đặt hàng khí chuẩn dùng để hiệu chuẩn và phụ tùng thay thế thường dài hơn so với trong nước, và đây là yếu tố nên tính đến khi lập kế hoạch bảo trì.

Các bước triển khai

Triển khai CEMS không phải chỉ là đặt mua thiết bị đo rồi lắp lên, mà cần lập kế hoạch xuyên suốt từ khâu xác nhận vị trí pháp lý cho đến khi đưa vào vận hành. Trình tự tiêu chuẩn như sau.

  • Xác nhận có thuộc diện áp dụng hay không – đối chiếu quy mô nồi hơi và phân loại ngành nghề, gửi câu hỏi riêng đến văn phòng DIW địa phương hoặc ban quản lý khu công nghiệp khi cần
  • Khảo sát đường khói và chọn điểm lấy mẫu – kiểm tra hình dạng, nhiệt độ, độ ẩm và lượng bụi của đường khói hiện hữu để quyết định dùng kiểu in-situ hay extractive
  • Thiết kế liên kết với thiết bị OT sẵn có – quyết định đi ké lên SCADA hoặc nền tảng giám sát năng lượng hiện có, hay tách thành tuyến độc lập chuyên dụng cho báo cáo pháp lý, đồng thời thiết kế bảo mật cho tuyến truyền thông
  • Lập kế hoạch thi công lắp đặt – xác định phạm vi có thể thi công mà không dừng sản xuất, nếu cần đấu nối thì sắp tiến độ trùng với đợt bảo dưỡng định kỳ
  • Chạy thử và hiệu chuẩn ban đầu – hiệu chuẩn bằng khí zero và khí span, gửi thử dữ liệu về IEMC của DIW để xác nhận đường truyền
  • Xây dựng quy tắc vận hành – hoàn thiện lịch hiệu chuẩn định kỳ, quy trình ghi nhận và báo cáo khi mất dữ liệu, cùng tài liệu bàn giao khi thay đổi người phụ trách
Quan trắc khí thải liên tục CEMS tại Thái Lan | Quy định, OT và chi phí - figure 3

Nếu ngay từ giai đoạn lập kế hoạch, ba bên gồm bộ phận bảo trì tại hiện trường, bộ phận IT/OT và bộ phận quản lý môi trường cùng chia sẻ thông tin, thì sang giai đoạn vận hành sau lắp đặt sẽ ít phát sinh khoảng trống trách nhiệm kiểu “ai là người hiệu chuẩn” hay “mất kết nối thì ai xử lý”. Với các cơ sở tại Thái Lan, nhận thức về mẫu biểu báo cáo và hệ đơn vị giữa bộ phận quản lý môi trường ở trụ sở chính và nhà máy sở tại nhiều khi không khớp nhau, nên chia sẻ cơ chế báo cáo cho trụ sở ngay từ giai đoạn đầu triển khai sẽ giúp việc trả lời các câu hỏi về sau trôi chảy hơn.

Những sai lầm thường gặp

Những chỗ dễ vấp khi triển khai CEMS thường nằm ở thiết kế vận hành chứ không phải ở độ chính xác phép đo.

  • Triển khai như một hệ thống cô lập chỉ để báo cáo pháp lý. Nếu lắp thành một máy trạm độc lập chỉ phục vụ báo cáo, không kết nối với hệ thống quản lý sản xuất hay hệ thống giám sát năng lượng, thì bí quyết vận hành rất dễ thất truyền khi người phụ trách thuyên chuyển hoặc nghỉ việc
  • Không đưa lịch hiệu chuẩn vào kế hoạch bảo trì thiết bị. Quên hiệu chuẩn định kỳ sẽ khiến độ tin cậy của giá trị đo bị nghi ngờ và làm tăng rủi ro bị chỉ ra sai sót khi kiểm tra
  • Để việc thiết kế bảo mật đường truyền lại sau cùng. Nếu không đưa vào thiết kế mạng ngay từ đầu trên cơ sở đây là tuyến cần truyền thông thường trực ra bên ngoài, thì việc sửa chữa về sau sẽ rất tốn kém
  • Nhà máy nằm sát ngưỡng quy mô lơ là việc kiểm tra lại khi tăng sản lượng. Việc nâng năng lực sản xuất có thể dẫn tới vượt ngưỡng quy mô nồi hơi, khiến nhà máy trở thành đối tượng áp dụng mà không hay biết
  • Phó mặc quy tắc ghi nhận và báo cáo khi mất dữ liệu cho hiện trường. Không định trước ai ghi, ghi lúc nào và ghi thế nào thì khi sự cố xảy ra, việc xử lý luôn đi sau một nhịp

Câu hỏi thường gặp (FAQ)

CEMS khác gì với báo cáo GHG/CO2?

CEMS là nghĩa vụ pháp lý đo trực tiếp tại ống khói các chất ô nhiễm không khí như SOx, NOx, bụi và báo cáo cho DIW Thái Lan. Trong khi đó, kiểm kê phát thải khí nhà kính là cơ chế mang tính kế toán, tính lượng phát thải từ mức tiêu thụ nhiên liệu và điện năng. Chất được xét, phương pháp tính và nơi nhận báo cáo đều khác nhau. Với nhà máy phải đáp ứng cả hai, việc dùng chung cảm biến và nền tảng dữ liệu trong phạm vi có thể sẽ nâng hiệu quả đầu tư.

Chi phí lắp đặt CEMS là bao nhiêu?

Mức chi phí dao động theo số thông số đo và hiện trạng thiết bị sẵn có. Chúng tôi khuyến nghị bóc tách báo giá theo năm lớp gồm bộ phân tích, hệ thống lấy mẫu, bộ ghi dữ liệu và thiết bị truyền thông, thi công lắp đặt, bảo trì vận hành, rồi xác nhận riêng theo kết cấu đường khói và điều kiện vận hành của nhà máy mình. Cần lưu ý rằng ngay cả khi số thông số đo giống nhau, tổng chi phí vẫn chênh lệch lớn tùy độ khó của công tác lắp đặt.

Nồi hơi nhỏ có thuộc diện áp dụng không?

Nếu lượng hơi sinh ra dưới 30 tấn/giờ và nhiệt lượng đầu vào dưới 100 MMBTU/giờ thì theo chuẩn toàn quốc hiện hành của Thái Lan, nhà máy chưa lập tức thuộc diện áp dụng. Tuy nhiên, như đợt mở rộng ngành nghề năm 2024 và quy định bổ sung cho Bangkok năm 2026 cho thấy, phạm vi áp dụng vẫn đang mở rộng theo từng giai đoạn, nên việc định kỳ kiểm tra lại năng lực thiết bị sau khi tăng sản lượng và rà soát xem khu công nghiệp có quy định bổ sung riêng hay không là rất quan trọng.

Điều gì xảy ra nếu không báo cáo cho DIW?

Nếu liên tục bỏ bê nghĩa vụ báo cáo gắn với điều kiện giấy phép vận hành nhà máy, doanh nghiệp có thể trở thành đối tượng thanh tra hiện trường và bị yêu cầu khắc phục từ cơ quan quản lý. Ngay cả khi xảy ra mất dữ liệu, việc luôn ở trạng thái ghi chép và giải thích được lý do cùng dự kiến thời điểm khôi phục chính là điểm thực dụng giúp giảm tải cho công tác ứng phó kiểm tra.

Có thể theo dõi nhiều nhà máy trên một màn hình không?

Nếu doanh nghiệp triển khai CEMS ở nhiều cơ sở và thống nhất định dạng đầu ra của bộ ghi dữ liệu, thì về mặt kỹ thuật hoàn toàn có thể xây dựng một dashboard cho phép trụ sở chính hoặc bộ phận quản lý môi trường theo dõi tình trạng phát thải xuyên suốt các cơ sở, song song với việc báo cáo riêng lẻ cho DIW. Khi kết nối với nền tảng giám sát năng lượng hoặc hệ thống quản lý sản xuất sẵn có, nên tách logic giữa tuyến có nghĩa vụ báo cáo và tuyến trực quan hóa nội bộ, để việc cải tạo một bên không dễ ảnh hưởng sang bên kia. Nhu cầu so sánh song song dữ liệu môi trường của nhiều quốc gia và nhiều cơ sở tại trụ sở chính cũng đang tăng lên, và nếu mỗi cơ sở dùng một model cùng một định dạng dữ liệu khác nhau thì công việc chuyển đổi khi muốn tích hợp về sau lại trở thành gánh nặng.

Tóm tắt

Quy định quan trắc khí thải liên tục CEMS của Thái Lan đã mở rộng dần cả về ngành nghề lẫn địa bàn kể từ khi bắt đầu áp dụng toàn quốc năm 2023. Nhìn vào dòng chảy từ đợt mở rộng lên 13 ngành năm 2024 đến quy định bổ sung cho Bangkok năm 2026, có thể đánh giá rằng khả năng những nhà máy quy mô trung bình vốn ngoài phạm vi bị đưa vào diện áp dụng nhân dịp tăng sản lượng hoặc rà soát quy định sẽ còn tiếp diễn. CEMS là một hệ thống OT bốn lớp gồm bộ phân tích, bộ ghi dữ liệu, truyền thông và xử lý mất dữ liệu. Triển khai nó như “một cơ chế vận hành liên tục” ăn khớp với thiết kế SCADA và an ninh OT sẵn có, thay vì chỉ lắp một thiết bị đo, sẽ có lợi cả về mặt tuân thủ lẫn tải vận hành. Đây là quy định của Thái Lan, nhưng với doanh nghiệp Việt Nam đang vận hành nhà máy tại Thái Lan, hoặc muốn có một mốc tham chiếu cho xu hướng siết chặt tuân thủ môi trường trong khu vực, thì càng có kế hoạch thay mới hay lắp thêm nồi hơi và lò đốt, việc xác nhận sớm khả năng vượt ngưỡng quy mô càng đáng giá.

Từ bước xác nhận sơ bộ xem nhà máy của bạn có thuộc diện áp dụng CEMS hay không, cho đến thiết kế liên kết với thiết bị OT và nền tảng giám sát năng lượng sẵn có, chúng tôi luôn sẵn sàng trao đổi ngay cả khi bạn mới đang ở giai đoạn cân nhắc và còn phân vân. Nếu nhà máy của bạn có nồi hơi hoặc lò đốt và muốn kiểm tra xem có rơi vào ngưỡng quy mô hay ngành nghề thuộc diện áp dụng hay không, hoặc đang cân nhắc cách để CEMS cùng tồn tại với hệ thống SCADA và giám sát năng lượng hiện có, chỉ cần chia sẻ cấu hình thiết bị hiện tại là chúng tôi sẽ cùng bạn sắp xếp lại xem có cần đáp ứng hay không và nên tiến hành theo hướng nào. Kể cả khi chỉ muốn đặt một câu hỏi, bạn cũng có thể liên hệ thoải mái qua trang liên hệ.

Tài liệu tham khảo