Khi thuê ngoài thiết kế chế tạo máy tự động, chuyện cùng một bản yêu cầu kỹ thuật mà báo giá của các nhà cung cấp chênh nhau 1.7 lần là hoàn toàn có thật. Nguyên nhân không nằm ở chỗ máy đắt hay rẻ, mà ở chỗ không nơi nào ghi rõ họ đã đưa phạm vi công việc đến đâu vào báo giá. Bài viết này lấy mô hình một nhà máy linh kiện ô tô Nhật Bản tại tỉnh Chonburi, Thái Lan, tách chi phí thành năm lớp và bày ra bằng con số những căn cứ để bạn tự phán đoán trước khi đặt hàng.
Tiền đề (nhà máy mẫu và điều kiện sản xuất)
Trước khi nói đến tiền, cần cố định trước là đang nói về nhà máy nào, công đoạn nào. Tiền đề khác đi thì toàn bộ con số cũng khác. Dưới đây là mô hình giả định do TOMAS TECH dựng lên từ mặt bằng giá của các dự án thực tế, không phải số liệu thống kê công bố. Hãy dùng nó như một cái thước để đọc báo giá của chính công ty bạn.
| Hạng mục | Nội dung |
|---|---|
| Nhà máy | Nhà máy linh kiện ô tô Nhật Bản tại tỉnh Chonburi, Thái Lan, 420 nhân viên |
| Công đoạn đối tượng | Lắp gioăng cao su vào chi tiết nhựa, kiểm tra ngoại quan rồi đóng thùng |
| Nhân lực hiện tại | 3 người mỗi ca × 2 ca = 6 người |
| Takt thực tế khi làm thủ công | 9.2 giây |
| Thời gian vận hành năm | 250 ngày × 2 ca × 7.5 giờ = 3,750 giờ |
| Sản lượng năm | 1,800,000 sản phẩm (takt yêu cầu 7.5 giây, 480 sản phẩm mỗi giờ) |
| Chi phí nhân công thực tế cho một người | 216,000 baht mỗi năm |
| Tiền tệ | Toàn bộ tính bằng baht (THB). Tỷ giá và thuế suất tại thời điểm tháng 8 năm 2026 |
Con số 216,000 baht mỗi năm cho một người cần được giải thích. Đây là mức tương đương 18,000 baht mỗi tháng, và không phải chỉ là lương cơ bản. Nó là tổng chi phí mà công ty thực sự gánh, bao gồm bảo hiểm bắt buộc, làm thêm giờ, trợ cấp ăn ca và xe đưa đón. Lương tối thiểu tại Chonburi năm 2026 là 400 baht mỗi ngày, tính cho 250 ngày làm việc trong năm thì cũng chỉ ra 100,000 baht, trong khi chi phí thực tế 216,000 baht cao hơn gấp đôi con số đó. Nếu lấy lương tối thiểu làm cơ sở để tính hiệu quả tự động hóa, giá trị của việc giảm được một người sẽ bị đánh giá thấp hơn một nửa so với thực tế. Thứ cần dùng khi cân nhắc tự động hóa là tổng chi phí công ty thực sự không còn phải trả khi một người rời khỏi công đoạn, chứ không phải lương tối thiểu.
Xét bối cảnh chung, bản thân tự động hóa đã không còn là lựa chọn đặc biệt. Theo International Federation of Robotics, số robot công nghiệp được lắp đặt trên toàn cầu năm 2024 là 542,000 đơn vị, trong đó châu Á chiếm 74% lượng lắp đặt mới, và số robot đang vận hành đạt 4,664,000 đơn vị (tăng 9% so với năm trước). Tuy nhiên, chuyện robot ngày càng nhiều và chuyện công đoạn cụ thể của nhà máy bạn có hoàn vốn được khi tự động hóa hay không là hai chuyện khác nhau. Phần còn lại của bài này chỉ bàn chuyện thứ hai.
Ngoài ra, bài viết lấy tiền đề là máy chuyên dụng được thiết kế riêng cho công đoạn này, chứ không phải máy tiêu chuẩn chọn từ catalogue. Mua máy chuyên dụng không phải là hành vi mua một cỗ máy. Đó là hành vi đặt hàng công việc chốt cho được đặc tả kỹ thuật của công đoạn này. Lý do báo giá chênh lệch và lý do bài toán hoàn vốn khó đọc đều xuất phát từ đây.
Chi phí thiết kế chế tạo máy tự động chia thành năm lớp

Chi phí của một máy chuyên dụng chia thành năm lớp lớn. Lớp 1 là cơ khí, lớp 2 là điều khiển và điện, lớp 3 là an toàn, lớp 4 là chạy thử đưa vào vận hành, lớp 5 là bảo trì. Lớp 1 đến lớp 4 là chi phí đầu tư ban đầu, còn lớp 5 là khoản chi ra hằng năm sau khi đưa vào sử dụng.
| Lớp | Số tiền | Tỷ trọng trong chi phí ban đầu |
|---|---|---|
| Lớp 1 Cơ khí | 3,200,000 | 36.4% |
| Lớp 2 Điều khiển và điện | 3,650,000 | 41.5% |
| Lớp 3 An toàn | 730,000 | 8.3% |
| Lớp 4 Chạy thử đưa vào vận hành | 1,210,000 | 13.8% |
| Tổng chi phí ban đầu (lớp 1 đến lớp 4) | 8,790,000 | 100% |
| Lớp 5 Bảo trì (5 năm) | 1,135,000 | — |
| Tổng 5 năm | 9,925,000 | — |
Điều đầu tiên cần nhìn ở bảng này là phần máy nhìn thấy được, tức phần kim loại sờ tay vào được, chỉ chiếm 36.4% chi phí ban đầu. Đi trong xưởng và chỉ tay vào thiết bị, bạn có thể nói đây là cỗ máy 8,790,000 baht, nhưng phần sờ được chỉ hơn một phần ba. Hai phần ba còn lại là tiền trả cho thiết kế, chương trình, điều kiện phán định, căn cứ an toàn, và cho chính hành vi đưa máy vào chạy được.
Lớp 1 Cơ khí chỉ chiếm 36.4% chi phí ban đầu
Lớp 1 gồm khung máy, cơ cấu vận chuyển, cấp phôi, đồ gá, chi tiết mua ngoài và công lắp ráp hiệu chỉnh. Chi tiết như sau.
| Hạng mục | Số tiền |
|---|---|
| Thiết kế ý tưởng và bố trí mặt bằng | 180,000 |
| Thiết kế chi tiết cơ cấu (mô hình 3D, bản vẽ chi tiết) | 420,000 |
| Chế tạo khung và bệ máy | 260,000 |
| Cơ cấu vận chuyển và định vị (bàn chia độ, băng tải) | 540,000 |
| Bộ cấp phôi (2 phễu rung cấp phôi) | 480,000 |
| Đồ gá và tay kẹp (3 loại) | 320,000 |
| Chi tiết gia công cơ khí và hàng mua ngoài (ray dẫn, cơ cấu chấp hành, cảm biến) | 610,000 |
| Lắp ráp và hiệu chỉnh phần cơ | 390,000 |
| Cộng lớp 1 | 3,200,000 |
Trong lớp 1, hạng mục dễ bị rơi khỏi báo giá nhất là bộ cấp phôi 480,000. Phễu rung cấp phôi có chạy được hay không phụ thuộc vào hình dáng của phôi, nên khi đặc tả chưa chốt thì đây là khoản rất khó đưa vào báo giá. Bỏ khoản này ra thì báo giá trông rẻ hơn, nhưng khi máy về đến xưởng sẽ có người phải đứng xếp phôi từng cái một, và hiệu quả giảm nhân công biến mất.
Một điểm nữa đáng chú ý là thiết kế ý tưởng cộng thiết kế chi tiết cơ cấu tốn 600,000 (180,000 cộng 420,000). Công việc vẽ bản vẽ phát sinh trước khi cắt tấm thép đầu tiên. Nếu đặc tả thay đổi giữa chừng, khoản 600,000 này phải làm lại, và toàn bộ khâu chế tạo phía sau cũng lệch theo. Đây là cửa ngõ điển hình khiến chi phí máy chuyên dụng phình ra. Cách tư duy khi thuê ngoài riêng phần đồ gá được trình bày trong bài Thuê ngoài thiết kế và chế tạo đồ gá.
Vì sao lớp 2 Điều khiển và điện chiếm tới 41.5%
Lớp 2 là lớp lớn nhất, 3,650,000 tương đương 41.5% chi phí ban đầu.
| Hạng mục | Số tiền |
|---|---|
| Thiết kế điện (sơ đồ mạch, bảng vật tư) | 240,000 |
| Chế tạo tủ điều khiển (PLC, servo amplifier, I/O) | 520,000 |
| Phát triển chương trình PLC | 380,000 |
| Thiết kế và lập trình màn hình HMI | 180,000 |
| Thân robot (6 trục, tải trọng 10kg) | 680,000 |
| Dạy điểm robot và lập ứng dụng | 260,000 |
| Trọn bộ kiểm tra ngoại quan (2 camera, chiếu sáng, bộ xử lý) | 740,000 |
| Hiệu chỉnh thuật toán kiểm tra (mẫu giới hạn và ngưỡng phán định) | 420,000 |
| Đi dây và lắp ráp trong tủ | 230,000 |
| Cộng lớp 2 | 3,650,000 |
Có ba lý do khiến lớp 2 trở thành lớp lớn nhất.
Thứ nhất, kiểm tra ngoại quan đắt. Camera, chiếu sáng và bộ xử lý là 740,000, cộng thêm 420,000 cho việc xây dựng ngưỡng phán định, tổng cộng 1,160,000. Con số này vượt một phần ba toàn bộ phần cơ khí của lớp 1. Hãy hiểu rằng bạn không trả tiền cho cái camera, mà trả tiền cho công việc quyết định thế nào là hàng lỗi. Công việc đó là bày mẫu giới hạn ra, quy đường ranh giữa hàng đạt và hàng không đạt thành con số, rồi thay đổi ánh sáng để kiểm chứng tính lặp lại, lặp đi lặp lại một cách rất thủ công.
Thứ hai, robot không tự chạy chỉ với phần thân. Thân robot 680,000, còn dạy điểm và lập ứng dụng là 260,000. Trong tổng 940,000 thì khoảng 28% là tiền công để làm cho nó chạy được. Tiêu chí quyết định có đưa robot vào hay không được tổng hợp trong bài Cách chọn nhà tích hợp robot.
Thứ ba, chương trình là tài sản còn lại lâu dài nhưng thường bị coi nhẹ trong báo giá. Chương trình PLC 380,000 và màn hình HMI 180,000 được dùng mỗi ngày chừng nào máy còn chạy, và bị đụng vào mỗi lần cải tiến. Những báo giá rẻ ở chỗ này thường không bao gồm việc bàn giao mã nguồn và file cấu hình. Mặt bằng giá phía tủ điều khiển có trong bài Hướng dẫn đặt hàng thiết kế và chế tạo tủ điện, còn cách tư duy khi thuê ngoài lập trình có trong bài Thuê ngoài phát triển chương trình PLC.
Lớp 3 An toàn là lớp không thể cắt
Lớp 3 là 730,000, tức 8.3% chi phí ban đầu. Đây là lớp nhỏ nhất về số tiền, nhưng không thể cắt.
| Hạng mục | Số tiền |
|---|---|
| Rào an toàn và cửa liên động | 210,000 |
| PLC an toàn, nút dừng khẩn cấp, rào quang | 280,000 |
| Đánh giá rủi ro theo ISO 12100 và lập hồ sơ | 150,000 |
| Kiểm chứng và ghi nhận mạch an toàn | 90,000 |
| Cộng lớp 3 | 730,000 |
Điều đáng chú ý là 150,000 cho đánh giá rủi ro và lập hồ sơ, cùng 90,000 cho kiểm chứng và ghi nhận mạch an toàn. Cộng lại là 240,000, tức khoảng một phần ba lớp 3 là những khoản không phải vật tư. Hai khoản này không liên quan gì đến chuyện máy có chạy hay không. Nhưng khi có kiểm toán hoặc khi xảy ra tai nạn, thứ bị yêu cầu xuất trình lại chính là các hồ sơ đó.
Khi so báo giá, chỉ nhìn giá rào an toàn rồi kết luận công ty A rẻ hơn là rất nguy hiểm. Cùng một mức giá rào chắn, nhưng có kèm hồ sơ đánh giá rủi ro hay không lại mang ý nghĩa hoàn toàn khác. Nếu không có hồ sơ, sau này bộ phận kỹ thuật sản xuất của chính bạn phải viết, và số giờ công đó không xuất hiện ở bất kỳ dòng nào trong báo giá.
Lớp 4 Chạy thử là chi phí để xác nhận rằng máy đã chạy được
Lớp 4 là 1,210,000, tức 13.8% chi phí ban đầu.
| Hạng mục | Số tiền |
|---|---|
| Lắp thử và chạy khô tại xưởng nhà chế tạo | 260,000 |
| Tháo rời, vận chuyển và đưa vào xưởng | 180,000 |
| Lắp đặt tại hiện trường, đấu nối khí và điện | 220,000 |
| Nghiệm thu có mặt khách hàng và chạy thử sản lượng | 340,000 |
| Đào tạo vận hành và chuyển đổi mẫu (bằng tiếng Thái) | 120,000 |
| Bàn giao tài liệu hướng dẫn, bản vẽ và chương trình | 90,000 |
| Cộng lớp 4 | 1,210,000 |
Lớp 4 là chi phí để đưa thiết bị từ trạng thái đã được chế tạo sang trạng thái dùng được. Khoản lớn nhất là 340,000 cho nghiệm thu có mặt khách hàng và chạy thử sản lượng. Chỉ tại thời điểm này người ta mới thực sự cho phôi thật chạy qua để xác nhận takt yêu cầu 7.5 giây có đạt không và phán định có ổn định không.
Thứ hay bị bỏ sót tại các nhà máy ở Thái Lan là 120,000 cho đào tạo vận hành và chuyển đổi mẫu bằng tiếng Thái. Nếu chỉ giao tài liệu tiếng Nhật hoặc tiếng Anh, khi máy dừng thì người vận hành và tổ trưởng tại hiện trường không khôi phục được. Một cỗ máy mà mỗi lần đổi mẫu lại phải gọi kỹ sư thì không chỉ tụt hiệu suất vận hành, mà cuối cùng vẫn là cỗ máy phải có người bám vào. Hãy chỉ định ngôn ngữ đào tạo ngay từ khi gửi yêu cầu báo giá.
Lớp 5 Bảo trì là 1,135,000 trong 5 năm
Lớp 5 là chi phí sau khi đưa vào sử dụng, 5 năm là 1,135,000.
| Hạng mục | Số tiền |
|---|---|
| Bộ phụ tùng dự phòng ban đầu | 210,000 |
| Kiểm tra định kỳ hằng năm 60,000 mỗi năm × 5 năm | 300,000 |
| Vật tư tiêu hao 45,000 mỗi năm × 5 năm | 225,000 |
| Hiệu chỉnh lại điều kiện kiểm tra 80,000 mỗi năm × 5 năm | 400,000 |
| Cộng lớp 5 | 1,135,000 |
Khoản lớn nhất trong lớp 5 không phải kiểm tra định kỳ cũng không phải vật tư tiêu hao, mà là 400,000 cho việc hiệu chỉnh lại điều kiện kiểm tra. Mỗi năm 80,000 và kéo dài 5 năm. Đây là khoản đặc thù của những thiết bị có gắn kiểm tra ngoại quan, vì lô vật liệu thay đổi, khuôn mòn dần, đèn chiếu sáng tối đi theo thời gian, khiến ranh giới phán định bị lệch. Hãy coi kiểm tra ngoại quan là thiết bị phải chăm sóc hằng năm, chứ không phải lắp xong là xong. Không hiếm công ty không ghi khoản này vào báo giá, nhưng không ghi thì nó vẫn phát sinh.
Báo giá chênh 1.7 lần là chênh phạm vi chứ không phải chiết khấu

Đây là phần cốt lõi của bài viết. Khi gửi cùng một công đoạn đi hỏi giá nhiều nơi, số tiền sẽ chênh nhau rất lớn. Nhưng trong phần lớn trường hợp, khoảng chênh đó là chênh phạm vi công việc chứ không phải mức chiết khấu.
| Báo giá | Phạm vi bao gồm | Số tiền |
|---|---|---|
| Báo giá thu hẹp phạm vi | Loại bộ cấp phôi 480,000 khỏi phần cơ khí, loại kiểm tra ngoại quan 740,000 và hiệu chỉnh kiểm tra 420,000 khỏi phần điều khiển, không có an toàn 730,000 và chạy thử 1,210,000 | 5,210,000 |
| Báo giá gồm đủ năm lớp | Toàn bộ lớp 1 đến lớp 4 | 8,790,000 |
| Chênh lệch | Là chênh phạm vi chứ không phải mức chiết khấu | 1.7 lần |
5,210,000 và 8,790,000, chênh nhau 1.7 lần. Và bản báo giá rẻ hơn không hề sai. Với phạm vi đã ghi ra, số tiền đó là đúng. Vấn đề là khối lượng công việc trị giá 3,580,000 bị loại ra không hề biến mất. Phần bị loại ra chắc chắn sẽ ở lại với chính công ty bạn. Không có bộ cấp phôi thì người phải xếp phôi, không có kiểm tra thì người phải nhìn bằng mắt, không có hồ sơ an toàn thì kỹ thuật sản xuất phải viết, không có khâu chạy thử thì bộ phận thiết bị phải tự lo.
Trước khi đặt các báo giá cạnh nhau để so, hãy kiểm tra với năm điểm phân giới dưới đây xem mỗi nhà cung cấp ghi là có bao gồm, ghi là không bao gồm, hay không ghi gì cả. Hạng mục không được ghi gì thì thường là không bao gồm.
Điểm phân giới 1 Ai đo độ dao động kích thước của phôi
Máy chuyên dụng được thiết kế bám theo hiện vật. Vì vậy, không biết kích thước phôi dao động đến đâu thì không thiết kế được. Với chi tiết nhựa, độ co khi ép, chênh lệch giữa các lô và cách bavia hình thành đều có ảnh hưởng.
Điều được đặt ra ở đây là ai đo, đo khi nào, đo bao nhiêu mẫu. Bên đặt hàng đo rồi giao dữ liệu, hay bên chế tạo nhận mẫu về đo. Nếu bên chế tạo đo thì số giờ công đó có nằm trong báo giá không. Nếu bỏ qua bước này mà bắt tay vào thiết kế, đến khi máy xong sẽ gặp cảnh lô này không chạy được, và đồ gá phải làm lại. Đây chính là lý do phải dành 4 tuần cho việc chốt đặc tả.
Điểm phân giới 2 Máy chịu trách nhiệm cấp phôi đến đâu
Việc 480,000 cho bộ cấp phôi gồm 2 phễu rung có được tính vào hay không liên quan trực tiếp đến chính hiệu quả giảm nhân công.
Phôi để rời sẽ được phễu rung xếp thẳng hàng rồi chuyển cho máy, hay người xếp sẵn lên khay rồi máy gắp từ khay. Phương án sau làm thiết bị rẻ đi, nhưng vẫn cần người xếp khay. Kết cục mua được máy giá rẻ nhưng vẫn có một người đứng trước máy xảy ra đúng khi bạn không đưa việc cấp phôi vào phạm vi trách nhiệm của máy.
Ngay từ khi gửi yêu cầu báo giá, hãy viết một dòng nói rõ phôi sẽ đến thiết bị ở trạng thái nào. Không chốt được điểm này thì mỗi nhà cung cấp sẽ dựng báo giá trên một tiền đề khác nhau, và việc so sánh không còn ý nghĩa.
Điểm phân giới 3 Ai quyết định đạt hay không đạt trong kiểm tra
Đây là chuyện trọn bộ kiểm tra ngoại quan 740,000 và hiệu chỉnh thuật toán kiểm tra 420,000, tổng cộng 1,160,000, có được tính vào hay không.
Và ngay cả khi đã tính vào, thứ được đặt ra vẫn là trách nhiệm phán định. Ai làm mẫu giới hạn. Ai quyết định ngưỡng đạt. Với hiện vật bị máy phán là lỗi, cuối cùng con người có quyền nhìn lại và lật ngược kết luận không. Nếu bước vào buổi nghiệm thu mà điểm này còn mơ hồ, sẽ nổ ra tranh luận kiểu máy phán quá gắt hay không, đúng tiêu chuẩn chất lượng hay không, và ngày bắt đầu sản xuất hàng loạt bị lùi.
Cách phân chia thực tế thường được chốt là bên đặt hàng làm mẫu giới hạn và quyết định ngưỡng đạt, bên chế tạo quy tiêu chuẩn đó thành con số và làm cho máy tái hiện được. Chỉ cần viết một câu như vậy vào bản yêu cầu báo giá, tranh cãi về sau sẽ giảm đi đáng kể.
Điểm phân giới 4 Rào an toàn hiện có đã đủ chưa
Đây là chuyện 730,000 của lớp 3 có được tính vào hay không. Đôi khi bạn sẽ nghe giải thích rằng máy đặt trong rào của dây chuyền hiện có nên không cần phần an toàn, nhưng đừng nhận lấy nguyên như vậy.
Cần kiểm tra ba điều. Thứ nhất, việc bổ sung thiết bị có làm cho đánh giá rủi ro hiện có mất hiệu lực không. Thứ hai, khi chuyển đổi mẫu hoặc vệ sinh, có hình thành lối đi khiến người tiếp cận thiết bị không. Thứ ba, khi ấn nút dừng khẩn cấp, thiết bị mới và dây chuyền hiện hữu có dừng đồng bộ với nhau hay không. Chỉ cần một trong ba điều này không thỏa, thì dù có rào sẵn vẫn phải xem xét lại phần an toàn.
Và hãy yêu cầu ghi rõ hồ sơ đánh giá rủi ro 150,000 cùng ghi nhận kiểm chứng mạch an toàn 90,000 sẽ là sản phẩm bàn giao của bên nào. Bên chế tạo ra thiết bị viết là hợp lý nhất.
Điểm phân giới 5 Chạy thử và tài liệu bàn giao có nằm trong phạm vi không
Đây là 1,210,000 của lớp 4. Có ba điểm đặc biệt cần xác nhận.
Thứ nhất, điều kiện đạt của buổi nghiệm thu. Chạy bao nhiêu sản phẩm, với takt bao nhiêu giây, tỷ lệ lỗi bao nhiêu thì coi là đạt. Báo giá không ghi những con số này sẽ khiến việc phán định đạt hay không trở thành cảm tính.
Thứ hai, danh mục tài liệu bàn giao. Tài liệu hướng dẫn, bản vẽ cơ khí, sơ đồ mạch điện, bảng vật tư, chương trình PLC, dữ liệu màn hình HMI, chương trình robot, điều kiện phán định của kiểm tra. Trong số đó, chương trình PLC và điều kiện phán định của kiểm tra là thứ trên thực tế đôi khi không được giao. Không được giao thì mọi cải tiến về sau đều buộc phải nhờ lại chính nhà chế tạo.
Thứ ba, ngôn ngữ và đối tượng đào tạo. Có đào tạo bằng tiếng Thái cho cả ba tầng gồm người vận hành, tổ trưởng và bảo trì không, hay chỉ dừng ở buổi giải thích cho quản lý người Nhật.
Bảy hạng mục phải chốt trước khi đặt hàng (nội dung ghi vào yêu cầu báo giá)
Hãy lấy năm điểm phân giới ở trên, cộng thêm takt và bảo trì thành bảy hạng mục, ghi vào bản yêu cầu báo giá rồi mới gửi đi. Khi bản yêu cầu có đủ bảy hạng mục này, báo giá của các nhà cung cấp sẽ nằm trên cùng một mặt bằng. Nói ngược lại, những báo giá gửi đi mà không ghi thì không so sánh được.
| Hạng mục | Nội dung ghi vào yêu cầu báo giá |
|---|---|
| Hạng mục 1 Điều kiện phôi | Bản vẽ và số mẫu hiện vật cung cấp, giá trị đo thực tế của độ dao động kích thước, ai thực hiện việc đo |
| Hạng mục 2 Takt và điều kiện vận hành | Takt yêu cầu 7.5 giây, thời gian vận hành năm 3,750 giờ, 2 ca, sản lượng năm 1,800,000 sản phẩm |
| Hạng mục 3 Tiền đề cấp phôi | Trạng thái phôi khi đến thiết bị (để rời hay đã xếp hàng), có đưa bộ cấp phôi vào phạm vi thiết bị không |
| Hạng mục 4 Tiêu chuẩn kiểm tra | Có mẫu giới hạn hay không, tỷ lệ lỗi lọt hiện tại 0.35% và mục tiêu 0.08%, ai có quyền lật lại phán định |
| Hạng mục 5 Yêu cầu an toàn | Có cần hồ sơ đánh giá rủi ro theo ISO 12100 không, có dùng được rào hiện có không, có cần PLC an toàn không |
| Hạng mục 6 Chạy thử và bàn giao | Điều kiện đạt của nghiệm thu (số lượng, takt, tỷ lệ lỗi), danh mục tài liệu bàn giao, ngôn ngữ và đối tượng đào tạo |
| Hạng mục 7 Tiền đề bảo trì | Phạm vi bộ phụ tùng dự phòng, tần suất và chi phí kiểm tra định kỳ, ai hiệu chỉnh lại điều kiện kiểm tra |
Việc ghi tỷ lệ lỗi hiện tại và mục tiêu vào hạng mục 4 có ý nghĩa rất lớn. Nếu bạn viết rõ muốn đưa 0.35% xuống 0.08%, bên chế tạo sẽ đề xuất camera, chiếu sáng và phương thức phán định đủ sức tạo ra khoảng chênh đó. Còn nếu chỉ viết là hãy gắn kiểm tra ngoại quan, mỗi nhà cung cấp sẽ dựng báo giá ở một mức khác nhau. Viết bằng con số chính là thứ tạo ra khả năng so sánh.
Hiệu quả đầu tư không đủ nếu chỉ tính giảm chi phí nhân công
Phần này xin viết thẳng thắn. Riêng khoản giảm chi phí nhân công thì dự án này không hoàn vốn được trong 5 năm.
| Hạng mục | Con số |
|---|---|
| Nhân lực trước khi đầu tư 6 người × 216,000 | 1,296,000 mỗi năm |
| Nhân lực sau khi đầu tư 2 người × 216,000 | 432,000 mỗi năm |
| Phần giảm chi phí nhân công | 864,000 mỗi năm |
| Lỗi ngoại quan lọt ra ngoài 0.35% xuống 0.08% (chênh 0.27%) | 1,800,000 sản phẩm × 0.27% = 4,860 sản phẩm mỗi năm |
| Chi phí cho mỗi sản phẩm lọt ra 180 baht | 874,800 mỗi năm |
| Tổng hiệu quả năm | 1,738,800 mỗi năm |
| Tổng 5 năm 9,925,000 chia cho 1,738,800 | Hoàn vốn giản đơn 5.7 năm |
| Lũy kế 5 năm nếu chỉ tính nhân công 864,000 × 5 | 4,320,000 (bằng 43.5% tổng 5 năm) |
Hãy theo dõi phép tính. Từ 6 người xuống 2 người, chi phí nhân công giảm 864,000 mỗi năm, 5 năm là 4,320,000. Nhưng tổng 5 năm là 9,925,000. Tức là 864,000 × 5 = 4,320,000 chỉ bằng 43.5% tổng 5 năm. Nếu viết tờ trình phê duyệt đầu tư chỉ dựa vào giảm chi phí nhân công, bạn đang đề xuất một khoản đầu tư mà 5 năm chưa thu về được một nửa.
Thứ làm cho bài toán hoàn vốn đứng vững là chất lượng. Kéo tỷ lệ lỗi ngoại quan lọt ra ngoài từ 0.35% xuống 0.08%, phần chênh 0.27% được cắt bỏ. Trên sản lượng năm 1,800,000 sản phẩm, đó là 4,860 sản phẩm mỗi năm. Lấy chi phí cho mỗi sản phẩm lọt ra là 180 baht thì thành 874,800 mỗi năm. Cộng 874,800 này với 864,000 tiền nhân công được 1,738,800 mỗi năm. Lấy 9,925,000 chia cho 1,738,800 ra hoàn vốn giản đơn 5.7 năm.
Con số 180 baht cho mỗi sản phẩm lọt ra không chỉ là tiền vật liệu. Nó gồm cả công phân loại, kiểm tra lại, vận chuyển, thủ tục với khách hàng và số giờ công xử lý nội bộ, tức tổng chi phí công ty gánh. Con số này khác nhau theo từng công đoạn, nên hãy nhất định tính ra giá trị của chính công ty bạn. Chừng nào chỗ này chưa được thay bằng con số của chính bạn, tờ trình xin đầu tư máy chuyên dụng sẽ không vượt qua được bức tường mang tên chỉ tính nhân công thì không đủ.
Và còn một điều nữa xin nói rõ. Phần tăng năng lực sản xuất không được tính vào hiệu quả. Takt thủ công 9.2 giây xuống còn 7.5 giây trên máy, nên về lý thuyết cùng khoảng thời gian sẽ làm ra nhiều hơn. Nhưng phần sản lượng tăng thêm mà chưa có nơi tiêu thụ thì không thành tiền mặt. Chỉ được đưa phần tăng sản lượng vào hiệu quả khi đơn hàng đã có sẵn và năng lực hiện tại không kham nổi đơn hàng đó. Đưa phần tăng sản lượng vào bảng hiệu quả thì số năm hoàn vốn rút ngắn rất dễ, nhưng đó là con số để tờ trình được duyệt, không phải con số thực sự quay về. Cách nhìn từ phía chi phí nhân công có trong bài Đối sách với chi phí nhân công tăng cao tại Thái Lan, còn ví dụ thực tế ở các công đoạn khác có trong bài Ví dụ giảm nhân công và hiệu quả đầu tư.
Biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất của BOI kéo gánh nặng thực tế xuống đến đâu
Thái Lan có chính sách khuyến khích đầu tư dành cho các khoản đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của nhà máy hiện hữu. Việc đưa thiết bị tự động hóa vào có thể thuộc diện này.
| Hạng mục | Con số |
|---|---|
| Trần miễn thuế thu nhập doanh nghiệp (50% giá trị đầu tư) | 4,395,000 |
| Trần khi mua từ 30% trở lên từ ngành tự động hóa trong nước (100% giá trị đầu tư) | 8,790,000 |
| Thuế suất thu nhập doanh nghiệp | 20% |
| Thu nhập chịu thuế cần có để dùng hết trần 4,395,000 (trong 3 năm) | 21,975,000 (mỗi năm 7,325,000) |
| Thu nhập chịu thuế cần có để dùng hết trần 8,790,000 (trong 3 năm) | 43,950,000 (mỗi năm 14,650,000) |
| Gánh nặng thực tế nếu dùng hết trần 50% là 9,925,000 trừ 4,395,000 | 5,530,000 (hoàn vốn 3.2 năm) |
| Gánh nặng thực tế nếu dùng hết trần 100% là 9,925,000 trừ 8,790,000 | 1,135,000 |
Chỉ nhìn con số thì rất hấp dẫn. Dùng hết trần 50% thì gánh nặng thực tế giảm xuống 5,530,000, và so với hiệu quả năm 1,738,800 thì hoàn vốn còn 3.2 năm. Nếu chạm được trần 100% thì gánh nặng thực tế chỉ còn 1,135,000, tức đúng bằng phần chi phí bảo trì.
Nhưng có một điều nhất định phải nắm. Thứ được miễn là số tiền thuế, không phải khoản trợ cấp. Không có tiền mặt nào được chuyển vào tài khoản, chỉ là khoản thuế thu nhập doanh nghiệp lẽ ra phải nộp được giảm đi. Do đó, nếu không có thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp thì ưu đãi không dùng được.
Với thuế suất 20%, để dùng hết trần 4,395,000 cần có 21,975,000 baht thu nhập chịu thuế trong 3 năm, tức mỗi năm 7,325,000. Nếu muốn dùng hết trần 8,790,000 thì cần 43,950,000 trong 3 năm, tức mỗi năm 14,650,000.
Những nhà máy lãi mỏng, hoặc có năm bị lỗ, sẽ không chạm tới trần. Trước khi lấy mức trần ưu đãi làm căn cứ để viết vào tờ trình rằng thực chất chỉ mất một nửa, hãy kiểm tra thu nhập chịu thuế 3 năm gần nhất của chính nhà máy. Nếu không có triển vọng duy trì thu nhập chịu thuế 7,325,000 mỗi năm trong 3 năm liền, thì gánh nặng thực tế sẽ không xuống mức 5,530,000. Ngoài ra, miễn thuế nhập khẩu máy móc là một khung riêng và vẫn có thể được hưởng. Việc có áp dụng được ưu đãi BOI hay không khác nhau theo từng dự án, nên hãy xác nhận trước khả năng nộp hồ sơ và hạng mục áp dụng.
Điểm phân giới giữa tự làm và thuê ngoài

Câu hỏi liệu đội bảo trì của chính công ty có tự làm được không gần như luôn xuất hiện. Xin bày con số ra.
| Hạng mục | Số tiền |
|---|---|
| Tự làm, tiền linh kiện mua vào (hàng mua ngoài 610,000 cộng cấp phôi 480,000 cộng vận chuyển 540,000 cộng khung máy 260,000 cộng robot 680,000 cộng kiểm tra 740,000 cộng linh kiện tủ điều khiển 520,000 cộng linh kiện an toàn 350,000) | 4,180,000 |
| Tự làm, giờ công 2 kỹ sư bảo trì × 8 tháng = 16 người-tháng × 55,000 | 880,000 |
| Tự làm, cộng | 5,060,000 (bằng 58% mức thuê ngoài 8,790,000) |
5,060,000 bằng 58% mức thuê ngoài 8,790,000. Nhìn bề ngoài thì rẻ hơn 3,730,000. Chỉ nhìn con số này thì tự làm có vẻ có lợi.
Nhưng thứ khiến việc tự làm bị tắc lại không phải phần cơ khí, mà là lớp điều khiển, an toàn và kiểm tra. Hàn khung, ráp băng tải, bố trí xy lanh khí thì đội bảo trì vẫn làm được như phần nối dài của công việc thường ngày. Chỗ tắc nằm ở phía sau đó. Đồng bộ nhiều trục servo, dạy điểm robot, xây dựng ánh sáng và ngưỡng cho kiểm tra ngoại quan, thiết kế và kiểm chứng mạch an toàn. Bốn thứ này là những lĩnh vực mà công việc bảo trì hằng ngày không tích lũy được kinh nghiệm.
Và có ba thứ không nằm trong con số 5,060,000.
Thứ nhất, việc 2 kỹ sư bảo trì rời khỏi nhiệm vụ chính trong 8 tháng. Chi phí giờ công 16 người-tháng × 55,000 = 880,000 đã được tính, nhưng thiệt hại do việc xử lý sự cố thiết bị hiện có bị chậm trong 8 tháng vắng hai người đó thì chưa được tính. Với những nhà máy có tần suất dừng chuyền vì sự cố thiết bị cao, khoản thiệt hại cơ hội này ăn hết khoảng chênh 3,730,000 một cách rất dễ dàng.
Thứ hai, bản vẽ, hồ sơ an toàn và điều kiện phán định của kiểm tra không ở lại trong công ty. Chúng nằm trong đầu người đã làm ra máy, nhưng không thành tài liệu. Nếu thuê ngoài thì các khoản 150,000 và 90,000 của lớp 3, cùng 90,000 của lớp 4, định nghĩa tài liệu như một sản phẩm bàn giao. Khi tự làm, thời gian viết những tài liệu này không được tính vào giờ công của ai cả, và kết quả là chúng không được viết. Đúng vào lúc người phụ trách chuyển bộ phận, cỗ máy đó trở thành cỗ máy không ai dám đụng vào.
Thứ ba, khi hỏng thì không nhờ được bên ngoài. Với một thiết bị do chính công ty thiết kế, kỹ thuật viên dịch vụ bên ngoài không xử lý được.
Điểm phân giới thực tế là như sau. Phần cơ khí và vận chuyển hợp với tự làm, còn điều khiển, an toàn và kiểm tra hợp với thuê ngoài. Thay vì tự làm toàn bộ thiết bị, có những tình huống thực tế mà cách chia việc tự chế tạo khung, bệ máy và cụm vận chuyển, còn thuê ngoài tủ điều khiển, chương trình, kiểm tra và an toàn lại cho hiệu quả đầu tư cao nhất. Tuy vậy, ngay cả khi đó thì điều kiện bắt buộc là chốt trước bằng văn bản phần giao diện, tức là trách nhiệm của ai đến đâu và đặc tả của các điểm đấu nối giữa điện và cơ khí. Chia việc mà không chốt điểm này thì đến lúc chạy thử hai bên sẽ ngồi chờ nhau.
Chế tạo tại Thái Lan hay tại Nhật Bản
Với các nhà máy Nhật Bản có cơ sở tại Thái Lan, luôn có lựa chọn giữa việc đặt hàng nhà chế tạo máy tại Nhật rồi nhập khẩu về Thái Lan, hay đặt hàng công ty chế tạo trong nước Thái Lan.
Ưu điểm khi làm tại Nhật là dựa được vào cách làm chuẩn mực của những nhà chế tạo giàu kinh nghiệm, và bộ phận kỹ thuật sản xuất của công ty mẹ tại Nhật dễ kiểm tra đặc tả. Bất lợi là khoảng cách chuyển thẳng thành chi phí và thời gian. Hãy xem lại chi tiết của lớp 4. Tháo rời, vận chuyển và đưa vào xưởng là 180,000, lắp đặt tại hiện trường và đấu nối khí điện là 220,000. Quãng đường vận chuyển dài ra thì các khoản này tăng lên. Thêm nữa, khi phát sinh trục trặc sau khi vào sản xuất hàng loạt, việc xử lý sẽ kèm theo cả một chuyến bay.
Ưu điểm khi làm tại Thái Lan là khoảng cách gần sau khi đưa vào vận hành, và có thể làm đào tạo cùng tài liệu bằng tiếng Thái. Khoản 120,000 cho đào tạo vận hành và chuyển đổi mẫu ở lớp 4 chỉ có ý nghĩa khi được thực hiện bằng ngôn ngữ của hiện trường. Kiểm tra định kỳ 60,000 mỗi năm và hiệu chỉnh lại điều kiện kiểm tra 80,000 mỗi năm ở lớp 5 cũng là những khoản dễ được thực hiện hơn khi công ty hỗ trợ ở gần. Chi phí bảo trì 1,135,000 trong 5 năm có thực sự chạy đúng như kế hoạch hay không phụ thuộc khá nhiều vào khoảng cách.
Xin đưa ra mốc phán đoán. Thiết bị có cách chế tạo đã tiêu chuẩn hóa và ít phải đụng vào sau khi chạy thì làm tại Nhật cũng được. Còn thiết bị có nhiều phần xây dựng riêng cho công đoạn và phải liên tục chỉnh điều kiện phán định theo biến động của lô vật liệu thì làm tại Thái Lan thường có lợi hơn về tổng chi phí. Dự án mẫu trong bài này thuộc nhóm thứ hai. Một thiết bị phát sinh 400,000 tiền hiệu chỉnh lại kiểm tra trong 5 năm sẽ không vận hành trơn tru dưới một cơ chế mà mỗi lần đều phải bay sang.
Ba mươi hai tuần từ hỏi giá đến sản xuất hàng loạt
Đây là mốc thời gian tham khảo, tổng cộng 32 tuần (khoảng 7.4 tháng).
| Công đoạn | Thời gian |
|---|---|
| Ý tưởng và báo giá sơ bộ | 2 tuần |
| Chốt đặc tả (gồm cả đo độ dao động của phôi) | 4 tuần |
| Thiết kế (cơ khí, điện, an toàn) | 8 tuần |
| Chế tạo và lắp ráp (mua sắm linh kiện chạy song song với thiết kế) | 8 tuần |
| Chạy thử nội bộ và nghiệm thu có mặt khách hàng | 4 tuần |
| Vận chuyển và đưa vào xưởng | 2 tuần |
| Lắp đặt tại hiện trường, chạy thử và thử sản lượng | 4 tuần |
| Tổng cộng | 32 tuần (khoảng 7.4 tháng) |
Điều quan trọng nhất ở bảng này là thiết kế 8 tuần và chế tạo lắp ráp 8 tuần, hai bên dài bằng nhau. Thời gian của một máy chuyên dụng không phải là thời gian cắt sắt, mà tốn đúng bằng thời gian ra quyết định.
Và xin đừng tìm cách nén 4 tuần chốt đặc tả. Rút xuống 2 tuần thì những hạng mục chưa chốt được sẽ bị đẩy sang giai đoạn thiết kế, và 8 tuần thiết kế thành 10 tuần. Hơn nữa, nếu đặc tả thay đổi giữa lúc đang thiết kế thì linh kiện đã đặt trở nên vô dụng, và 8 tuần chế tạo lắp ráp cũng dài ra. Rút 1 tuần ở khâu chốt đặc tả sẽ quay lại thành 2 đến 3 tuần chậm trễ ở phía sau.
Nếu bạn muốn đưa thiết bị vào đúng dịp bắt đầu sản xuất hàng loạt sản phẩm mới, hãy tính ngược 32 tuần từ ngày bắt đầu sản xuất. Tuy vậy, 32 tuần này là khoảng thời gian tính từ lúc hỏi giá. Nó không bao gồm thời gian xin ngân sách và phê duyệt nội bộ, cũng như thời gian cân nhắc hồ sơ BOI. Trong thực tế, bắt đầu xem xét từ 10 đến 12 tháng trước ngày sản xuất hàng loạt là hợp lý.
Câu hỏi thường gặp (FAQ)
Máy tự động, máy chuyên dụng và thiết bị giảm nhân công khác nhau ở chỗ nào
Đó là khác biệt về cách gọi, không có ranh giới rõ ràng. Thông thường, thiết bị thay con người làm việc được gọi chung là máy tự động, trong đó loại được thiết kế riêng cho một công đoạn cụ thể gọi là máy chuyên dụng, còn loại chỉ cơ khí hóa một phần thao tác để giảm gánh nặng cho người thì gọi là thiết bị giảm nhân công.
Điều quan trọng trong thực tế không phải tên gọi mà là thiết bị đó bao gồm tới lớp nào trong năm lớp. Không phải vì là thiết bị giảm nhân công nên rẻ, mà vì nó không gồm bộ cấp phôi, kiểm tra ngoại quan và an toàn nên rẻ. Khi đọc báo giá, hãy xác nhận phạm vi từ lớp 1 đến lớp 5 chứ đừng xem tên gọi của thiết bị.
Thiết kế chế tạo máy tự động mất bao lâu
Với dự án mẫu trong bài này, từ hỏi giá đến sản xuất hàng loạt là 32 tuần (khoảng 7.4 tháng). Chi tiết gồm 2 tuần cho ý tưởng và báo giá sơ bộ, 4 tuần chốt đặc tả, 8 tuần thiết kế, 8 tuần chế tạo và lắp ráp, 4 tuần chạy thử nội bộ và nghiệm thu, 2 tuần vận chuyển và đưa vào xưởng, 4 tuần từ lắp đặt tại hiện trường đến thử sản lượng.
Con số này chưa gồm thời gian xin ngân sách và phê duyệt nội bộ. Nếu ngày bắt đầu sản xuất hàng loạt đã được ấn định, hãy khởi động từ 10 đến 12 tháng trước đó. Ngoài ra, cắt bớt 4 tuần chốt đặc tả sẽ quay lại thành 2 đến 3 tuần chậm trễ ở phía sau, nên thực chất không rút ngắn được gì.
Khi hỏi giá thì thông tin đầu tiên cần cung cấp là gì
Là bảy hạng mục. Điều kiện phôi (bản vẽ và mẫu hiện vật, giá trị đo thực tế của độ dao động kích thước), takt và điều kiện vận hành (takt yêu cầu 7.5 giây, thời gian vận hành năm 3,750 giờ, sản lượng năm 1,800,000 sản phẩm), tiền đề cấp phôi, tiêu chuẩn kiểm tra (hiện tại 0.35% và mục tiêu 0.08%), yêu cầu an toàn, chạy thử và tài liệu bàn giao, tiền đề bảo trì.
Trong đó, thứ có tác dụng mạnh nhất là những gì viết được bằng con số. Takt, thời gian vận hành, sản lượng năm, tỷ lệ lỗi. Chỉ cần giao bốn thứ này dưới dạng con số, báo giá của các nhà cung cấp sẽ đứng trên cùng một tiền đề và việc so sánh trở nên có nghĩa. Ngược lại, thiếu chúng thì bạn không phân biệt được khoảng chênh về giá là chênh phạm vi hay chênh năng lực.
Nhà máy quy mô vừa và nhỏ có hoàn vốn được máy tự động không
Có, với điều kiện kèm theo. Trong mô hình của bài này, chỉ riêng giảm chi phí nhân công thì dừng ở 864,000 mỗi năm, 5 năm là 4,320,000, tức chỉ bằng 43.5% tổng 5 năm 9,925,000. Thứ làm cho bài toán hoàn vốn đứng vững là cộng thêm phần giảm lỗi lọt ra ngoài 874,800 mỗi năm thành 1,738,800 mỗi năm, và hoàn vốn giản đơn là 5.7 năm.
Vì vậy, ranh giới phán đoán không nằm ở quy mô nhà máy mà ở chỗ hiện tại bạn đang trả bao nhiêu tiền cho lỗi lọt ra ngoài và cho việc sửa lại. Nếu công đoạn đó có khoản này lớn thì dù quy mô nhỏ vẫn hoàn vốn. Ngược lại, công đoạn đã ổn định chất lượng và chỉ còn hiệu quả giảm nhân công thì dù quy mô lớn vẫn khó hoàn vốn. Nếu dùng được biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất của BOI thì gánh nặng thực tế có thể xuống tới 5,530,000 (hoàn vốn 3.2 năm), nhưng để dùng hết trần 4,395,000 cần tới 21,975,000 thu nhập chịu thuế trong 3 năm, nên những nhà máy lãi mỏng sẽ không chạm được tới trần.
Có thể bổ sung máy tự động vào thiết bị hiện có sau này không
Được, nhưng có ba điểm cần xác nhận. Thứ nhất là an toàn. Khi thêm thiết bị vào bên trong rào hiện có, đánh giá rủi ro hiện hữu có thể mất hiệu lực. Cũng cần xác nhận khi ấn nút dừng khẩn cấp thì dây chuyền hiện hữu và thiết bị mới có dừng đồng bộ hay không.
Thứ hai là sự khớp nhau về takt. Đưa vào một thiết bị nhanh hơn các công đoạn trước và sau thì takt của cả dây chuyền cũng không đổi. Hãy đo trước xem nút thắt cổ chai nằm ở đâu.
Thứ ba là đường đưa thiết bị vào. Khi lắp thiết bị vào giữa dây chuyền hiện có, sẽ phải tháo rời để đưa vào rồi ráp lại tại chỗ. Khoản tháo rời, vận chuyển và đưa vào xưởng 180,000 cùng lắp đặt tại hiện trường 220,000 của lớp 4 sẽ tăng theo điều kiện của lối vào này. Hãy truyền đạt chiều cao trần, bề rộng lối đi và việc có cầu trục hay không ngay từ khi gửi yêu cầu báo giá.
Tổng kết
Máy chuyên dụng không phải hành vi mua một cỗ máy, mà là hành vi đặt hàng công việc chốt cho được đặc tả kỹ thuật.
Vì vậy, trong chi phí ban đầu 8,790,000 thì phần máy nhìn thấy được chỉ có 3,200,000, tức 36.4%. Lớn nhất là điều khiển và điện với 3,650,000, tức 41.5%. An toàn là 730,000 (8.3%), chạy thử là 1,210,000 (13.8%), bảo trì 5 năm là 1,135,000. Cộng lại thành tổng 5 năm 9,925,000.
Việc báo giá chênh nhau 5,210,000 so với 8,790,000, tức 1.7 lần, là chênh phạm vi chứ không phải mức chiết khấu. Phần bị loại ra chắc chắn sẽ ở lại với chính công ty bạn. Bộ cấp phôi 480,000, kiểm tra ngoại quan 740,000, hiệu chỉnh kiểm tra 420,000, an toàn 730,000, chạy thử 1,210,000. Hãy dùng năm điểm phân giới để xác nhận những khoản này có hay không có trong báo giá.
Rồi đến phần hiệu quả. Giảm chi phí nhân công từ 6 người xuống 2 người là 864,000 mỗi năm, 5 năm là 4,320,000. Con số đó chỉ bằng 43.5% tổng 5 năm và tự nó không hoàn vốn. Thứ làm bài toán đứng vững là cộng thêm phần giảm lỗi lọt ra ngoài 874,800 mỗi năm thành 1,738,800 mỗi năm, và hoàn vốn giản đơn là 5.7 năm. Phần tăng năng lực sản xuất (từ 9.2 giây xuống 7.5 giây) không được tính vào, vì chưa có nơi tiêu thụ thì không thành tiền mặt.
Dùng biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất của BOI thì gánh nặng thực tế có thể xuống tới 5,530,000 (hoàn vốn 3.2 năm), nhưng thứ được miễn là số tiền thuế chứ không phải khoản trợ cấp. Để dùng hết trần 4,395,000 cần 21,975,000 thu nhập chịu thuế trong 3 năm. Tự làm trông như chỉ tốn 5,060,000, tức 58% mức thuê ngoài, nhưng việc 2 kỹ sư rời nhiệm vụ chính trong 8 tháng và việc bản vẽ, hồ sơ an toàn cùng điều kiện phán định không ở lại trong công ty thì không nằm trong con số đó.
TOMAS TECH nhận cả những trao đổi chỉ để phân định phạm vi trước khi đặt hàng. Bản báo giá bạn đang cầm bao gồm tới lớp nào trong năm lớp, chi phí lỗi lọt ra ngoài của nhà máy bạn nên được lượng hóa ra sao, và nên chia ranh giới giữa tự làm với thuê ngoài ở đâu. Chỉ cần nghe ba điều này, chúng tôi có thể đưa cho bạn căn cứ phán đoán ngay từ giai đoạn trước khi trình phê duyệt. Bạn chưa quyết định đầu tư cũng hoàn toàn không sao, cứ liên hệ qua mẫu liên hệ một cách thoải mái.
Nguồn tham khảo
- Thailand Board of Investment “Measure for Improvement of Production Efficiency” https://www.boi.go.th/upload/menu/production_increase_en_5a5712e3861a0.pdf
- Thailand Board of Investment “Chính sách khuyến khích đầu tư đối với ngành thiết bị máy móc tự động hóa và robot tại Thái Lan” https://www.boi.go.th/upload/content/BOI%20Thailand%20Investment%20Promotion%20Policy%20for%20Automation%20Robotics%20Industries%20Japanese_619b411183526.pdf
- JETRO “Ưu đãi dành cho đầu tư nước ngoài (Thái Lan)” https://www.jetro.go.jp/world/asia/th/invest_03.html
- International Federation of Robotics “Global Robot Demand in Factories Doubles Over 10 Years” (ngày 25 tháng 9 năm 2025) https://ifr.org/ifr-press-releases/news/global-robot-demand-in-factories-doubles-over-10-years
- Thai Law Online “Minimum Wage in Thailand” https://www.thailawonline.com/minimum-wage-in-thailand/
- THAIBIZ “Nâng cao trình độ ngành chế tạo Thái Lan bằng tự động hóa nhà máy (FA)” https://th-biz.com/features_202102/
- Maruka Machinery (Thailand) “Máy tự động hóa và máy giảm nhân công” https://www.smri.asia/jp/maruka/products/3096