“Lương giờ đã tăng nên chúng tôi muốn xem xét tự động hóa”. Rất nhiều cuộc trao đổi đến từ các nhà máy Nhật Bản tại Thái Lan mở đầu bằng đúng một câu như vậy. Nhưng nếu nhìn vào thực tế từ đầu năm 2026, thứ đang tăng lại không phải bản thân đơn giá tiền lương. Nếu muốn dùng tự động hóa làm biện pháp đối phó với chi phí nhân công tăng cao tại Thái Lan, thứ cần bóc tách đầu tiên không phải đơn giá lương, mà là các khoản phí đang dồn lên ở phía ngoài tiền lương, cùng với câu hỏi sang năm còn bố trí đủ người cho công đoạn đó hay không. Bài viết này bóc tách chi phí lao động thành 5 lớp, thử tính hoàn vốn theo 4 kịch bản, và chỉ ra đường biên giữa công đoạn hoàn vốn được và công đoạn không hoàn vốn được.
Trước khi coi tự động hóa là biện pháp đối phó chi phí nhân công tăng cao tại Thái Lan, hãy bóc tách xem cái gì đang tăng
Quyết định tự động hóa vì chi phí nhân công tăng, bản thân hướng đi đó không sai. Việc xem xét bị dừng giữa đường là vì công thức tính số năm hoàn vốn không khớp với cấu trúc chi phí thật. Công thức được đưa ra đầu tiên trong hầu hết mọi cuộc trao đổi đều có dạng này.
Số người giảm được × đơn giá giờ × số giờ vận hành trong năm ÷ số tiền đầu tư.
Cả tử số lẫn mẫu số trông đều gọn gàng. Nhưng công thức này lệch khỏi thực tế ở 3 chỗ.
Thứ nhất, đơn giá giờ ở tử số không tăng. Mức lương tối thiểu của Thái Lan tại thời điểm 2026 đang được giữ nguyên, nên mọi phép tính đặt tiền đề là đơn giá lương sẽ tăng đều sụp ngay ở tiền đề đó.
Thứ hai, thứ biến mất đầu tiên khi đưa tự động hóa vào không phải con người mà là giờ làm thêm. Giờ làm thêm có phụ trội, nên đơn giá theo giờ cao hơn giờ thường. Vậy mà công thức trên lại quy phần cắt giảm về đơn giá giờ thường, tức là đánh giá thấp hiệu quả. Ngược lại, nếu đặt thẳng là “giảm 3 người” theo đầu người thì lại bỏ qua thực tế hiện trường không chịu buông người cho tới phút cuối, lần này thành đánh giá quá cao. Ngả về bên nào cũng không ra được độ chính xác.
Thứ ba, công thức này không có chỗ cho sự thay đổi mang tên “không tuyển được nữa”. Tốc độ không tuyển được người còn nhanh hơn tốc độ tăng của đơn giá. Đơn giá đi ngang nhưng nếu không duy trì nổi số người cần thiết thì sản xuất vẫn dừng. Tổn thất của một dây chuyền đã dừng không thể diễn đạt bằng khoảng chênh đơn giá giờ.
Vì vậy trục phán đoán không phải “lương giờ sẽ tăng thêm bao nhiêu baht”. Trục đúng là sang năm còn vận hành được công đoạn đó với đúng số người như hiện nay hay không. Chỉ những công đoạn mà câu trả lời là “đáng lo” mới xứng đáng được đưa vào xem xét tự động hóa.
Lương tối thiểu đang giữ nguyên, thứ đang tăng là các khoản phí ngoài tiền lương
Cần sắp xếp lại các dữ kiện. Lương tối thiểu của vùng thủ đô Bangkok đã được nâng từ 372 baht lên 400 baht mỗi ngày vào ngày 1 tháng 7 năm 2025. Ủy ban Tiền lương Quốc gia phê duyệt ngày 17 tháng 6 năm 2025, đối tượng ảnh hưởng khoảng 700,000 người. Tại 4 tỉnh và 1 huyện là các cụm công nghiệp chế tạo như Chonburi và Rayong, mức 400 baht đã được áp dụng sớm hơn, từ tháng 1 năm 2025.
Và từ đầu năm 2026 tới nay chưa có lần điều chỉnh nào. Trên toàn quốc, mức 337 baht đến 400 baht mỗi ngày vẫn đang tiếp tục. Nói cách khác, trong cảm nhận “chi phí nhân công đã tăng” mà nhiều nhà máy đang có, phần đến từ việc nâng đơn giá tiền lương đã tạm dừng lại ở năm 2025.
Dù vậy tổng chi phí vẫn tăng. Thứ đang tăng nằm ở phía ngoài tiền lương.
Một là mức trần của cơ sở tính bảo hiểm xã hội. Theo lần sửa đổi được công bố trên công báo ngày 12 tháng 12 năm 2025 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2026, mức trần của cơ sở tính đã được nâng từ 15,000 baht lên 17,500 baht mỗi tháng. Mức sàn 1,650 baht không đổi, tỷ lệ 5% cũng giữ nguyên. Chỉ riêng mức trần dịch chuyển theo từng giai đoạn, trong đó giai đoạn 1 là 17,500 baht áp dụng từ ngày 1 tháng 1 năm 2026 đến ngày 31 tháng 12 năm 2028, tiếp đó là 20,000 baht từ năm 2029 và 23,000 baht từ năm 2032. Khoản đóng của chủ sử dụng lao động và của người được bảo hiểm mỗi bên sẽ tăng từ 750 baht lên 875 baht mỗi tháng, sau đó lên 1,000 baht rồi 1,150 baht.
Hai là chi phí đi kèm việc nghỉ việc. Quảng cáo tuyển dụng, phỏng vấn, thủ tục nhận việc, và đào tạo cho tới khi người mới đứng được vào vị trí. Khoản này không xuất hiện ở bất cứ dòng nào trong bảng lương với tên gọi chi phí nhân công, nhưng ở những công đoạn có tỷ lệ nghỉ việc cao thì nó phát sinh liên tục và chắc chắn. Lương giữ nguyên, nhưng tỷ lệ nghỉ việc tăng thì tổng chi phí lao động vẫn tăng. Nếu không nhìn vào chỗ này mà chỉ chạy theo đơn giá giờ, cảm nhận rằng chi phí đang phình ra sẽ mãi không khớp với kết quả tính toán.
Thiếu công nhân tại Thái Lan tác động qua chuyện “không tuyển được”, không qua đơn giá
Xin nói về phần mang tính cấu trúc hơn. NESDC, tức Ủy ban Phát triển Kinh tế và Xã hội Quốc gia, cho rằng lực lượng lao động của Thái Lan sẽ giảm hơn 3 triệu người mỗi 10 năm kể từ nay. Lực lượng lao động cuối năm 2023 là 40.7 triệu người, trong khi nhu cầu lao động dự báo cho năm 2037 là 44.71 triệu người. Chỉ lấy hiệu đơn giản cũng thấy thiếu khoảng 4 triệu người.
Cùng dự báo đó cho rằng nếu nâng năng suất lên khoảng 5% nhờ tự động hóa thì có thể giảm hơn 2 triệu người trong nhu cầu lao động. Mặt khác, tỷ lệ áp dụng tự động hóa của ngành chế tạo Thái Lan chỉ ở khoảng 5%. Có thể diễn đạt rằng dư địa để tăng còn rất lớn, nhưng đọc lại bằng góc nhìn hiện trường thì ý nghĩa ngược lại. Phần lớn nhà máy vẫn đang làm bằng người. Nghĩa là cục diện các nhà máy trong cùng một khu vực giành nhau nguồn lao động hữu hạn sẽ còn tiếp tục.
Sự thiếu hụt này không hiện ra ngay dưới dạng con số trong bảng lương. Nó hiện ra theo cách khác. Đăng tuyển mà không có ai ứng tuyển. Có người vào nhưng không trụ lại. Công đoạn bị hụt người thì phải điều người từ công đoạn khác sang hỗ trợ. Bên cho người đi hỗ trợ lại tăng giờ làm thêm. Tình trạng chỉ còn đúng một người làm được một thao tác nào đó trở thành cố định. Và đúng cái tháng người đó nghỉ, kế hoạch sản xuất vỡ.
Nói cách khác, thứ đang diễn tiến hướng tới năm 2037 không phải vấn đề đơn giá mà là vấn đề tính liên tục của sản xuất. Nếu dựng quyết định đầu tư tự động hóa chỉ bằng số tiền cắt giảm chi phí nhân công thì toàn bộ giá trị của thiết bị với vai trò bảo hiểm cho tính liên tục sẽ rơi khỏi phép tính. Ngược lại, ngay cả những dự án mà riêng số tiền cắt giảm không đưa số năm hoàn vốn xuống dưới ngưỡng, vẫn có thể ra quyết định nếu cộng thêm góc nhìn về tính liên tục. Bốn kịch bản trình bày ở nửa sau bài viết chính là khung để lượng hóa cách cộng thêm đó thành tiền.
Về việc phân chia giai đoạn giữa công đoạn nào giao cho máy và công đoạn nào để lại cho người, nếu đọc trước cách triển khai tự động hóa nhà máy tại Thái Lan theo lộ trình 4 giai đoạn thì sẽ dễ định vị phép tính trong bài này đang nói về giai đoạn nào.
Bóc tách chi phí lao động thực tế thành 5 lớp (chỉ lấy tiền lương để tính hoàn vốn là chệch)

Từ đây mới vào phần chính. Khi thuê một công nhân trong một tháng, số tiền công ty thực sự phải gánh là bao nhiêu. Với tiền đề là khu vực ven Bangkok và lương tối thiểu 400 baht mỗi ngày, hãy cộng dồn theo 5 lớp.
| Lớp | Chi tiết | Số tiền mỗi tháng (THB) |
|---|---|---|
| Lớp 1 Tiền lương cơ bản | 400 baht × 26 ngày | 10,400 |
| Lớp 2 Các loại phụ cấp | Chuyên cần, tiền ăn, tiền đi lại | 1,600 |
| Lớp 3 Tiền lương phụ trội | 40 giờ làm thêm × 75 baht (gấp 1.5 lần đơn giá giờ thường 50 baht) | 3,000 |
| Lớp 4 Phúc lợi theo luật | Bảo hiểm xã hội phần chủ sử dụng 5% (750) cộng bảo hiểm tai nạn lao động khoảng 0.5% (75) | 825 |
| Lớp 5 Chi phí nhân công biến động | Tỷ lệ nghỉ việc 20% mỗi năm, chi phí tuyển dụng và đào tạo 8,000 baht cho mỗi người, tương đương 1,600 baht mỗi năm | 133 |
| – | Tổng cộng | 15,958 |
Tỷ lệ phí bảo hiểm tai nạn lao động khác nhau theo ngành nghề, nên ở đây khoảng 0.5% được đặt ra như một giả định. Thay bằng tỷ lệ thực của công ty mình thì con số lớp 4 sẽ dịch chuyển, nhưng bộ khung của phần lập luận phía dưới không đổi.
Xin bổ sung về cơ sở tính của lớp 4. Trong phép tính này, cơ sở tính bảo hiểm xã hội và bảo hiểm tai nạn lao động được đặt là mức lương tháng có bao gồm tiền lương phụ trội. Tức là tổng của lớp 1 đến lớp 3, 10,400 + 1,600 + 3,000 = 15,000 baht, trở thành cơ sở. Việc đưa những khoản nào vào cơ sở tính là vùng có nhiều cách giải thích khác nhau, nên cách xử lý trong thực tế của từng công ty cần được xác nhận với đơn vị tư vấn trước khi thay số, như vậy mới an toàn. Mức này đúng bằng mức trần 15,000 baht của cơ sở tính trước khi sửa đổi. Nhân 5% vào đây được 750 baht là phần chủ sử dụng đóng bảo hiểm xã hội, nhân 0.5% được 75 baht là bảo hiểm tai nạn lao động, cộng lại thành 825 baht.
Cần xác nhận tính chất của từng lớp. Lớp 1 và lớp 2 phát sinh tỷ lệ thuận với số người và biến động theo tháng rất nhỏ. Lớp 3 dịch chuyển hàng tháng theo sản lượng và mức độ đủ người. Lớp 4 được quyết định bởi mức lương và tỷ lệ phí, và ở nhóm chưa chạm trần thì nó biến động cùng lớp 1 đến lớp 3. Lớp 5 phát sinh dồn vào tháng có người nghỉ việc, nên theo tháng thì không thấy, phải bình quân theo năm mới thành số tiền.
Khi dựng lại bằng số liệu của chính mình, hai chỗ dễ sai nhất là lớp 3 và lớp 5. Con số 40 giờ làm thêm ở lớp 3 khác nhau rất nhiều giữa các công đoạn, nên nếu đưa bình quân toàn công ty vào thì sẽ lệch khỏi thực tế của công đoạn đang xét. Đây là số phải lấy từ dữ liệu chấm công theo từng công đoạn. Lớp 5 là phép nhân của hai giả định, tỷ lệ nghỉ việc và chi phí tuyển dụng đào tạo cho mỗi người. Tỷ lệ nghỉ việc 20% dao động mạnh theo công đoạn nên phải thay bằng số thực của công đoạn đang xét. Chi phí tuyển dụng đào tạo 8,000 baht cũng thay đổi theo kênh tuyển dụng và thời gian để người mới đứng được vào việc. Khi thay hai giá trị này bằng số của công ty mình, lớp 5 có thể nhảy từ 133 baht lên gấp nhiều lần.
Quy tổng số này về năm, 15,958 × 12 = 191,496, tức khoảng 191,500 THB mỗi năm.
Trong khi đó, con số thường được dùng trong các cuộc họp nội bộ lại chỉ gồm lớp 1 và lớp 2. 10,400 + 1,600 = 12,000. Quy về năm là 12,000 × 12 = 144,000 THB mỗi năm. Đặt hai con số này cạnh nhau thì khoảng cách hiện ra rất rõ.
191,496 ÷ 144,000 = 1.3298. Chi phí thực tế bằng khoảng 1.33 lần tổng của lương cơ bản và các loại phụ cấp.
Có đưa hệ số 1.33 lần này vào hay không sẽ làm số năm hoàn vốn dịch chuyển rất mạnh. Giả sử thu hồi khoản đầu tư 4,000,000 baht bằng chi phí lao động của 3 công nhân trực tiếp, nếu chia cho 144,000 × 3 = 432,000 thì ra 9.3 năm, còn chia cho 191,496 × 3 = 574,488 thì ra 7.0 năm. Cùng thiết bị đó, cùng công đoạn đó, cùng số người đó, mà lệch hơn 2 năm. Đó là biên độ đủ để một tờ trình được duyệt hay bị bác.
Và điều quan trọng là hệ số 1.33 lần này không phải một con số được tính dôi ra cho chắc. Trong đó chưa có nghĩa vụ tương lai về trợ cấp thôi việc, tức khoản bồi thường khi cho nghỉ. Còn giữ người thì nghĩa vụ bồi thường theo số năm làm việc vẫn cứ dồn lên. Số tiền thay đổi theo cơ cấu thâm niên của từng nơi và theo cách giải thích quy định pháp luật nên bài viết này không thử tính, nhưng xem chi phí thực tế nằm ở phía trên mức 1.33 lần mới là cách nhìn hợp lý.
Chi phí quản lý cũng chưa được tính vào. Mỗi khi thêm một người là thêm việc tổng hợp chấm công, điều chỉnh ca, quản lý hồ sơ đào tạo, xử lý an toàn vệ sinh. Những việc này bị hấp thụ vào giờ công của các bộ phận gián tiếp nên không hiện ra như chi phí lao động, nhưng chúng không phải khoản chi sẽ biến mất.
Nhóm chịu tác động và nhóm không chịu tác động từ việc nâng trần bảo hiểm xã hội
Việc nâng trần cơ sở tính từ tháng 1 năm 2026, nếu chỉ theo giọng điệu của báo chí, sẽ trông giống chuyện “chi phí nhân công lại tăng nữa”. Nhưng khi xác nhận cụ thể là chi phí của ai trong nhà máy tăng lên, câu chuyện trở nên chi tiết hơn một bậc.
Người khiến phần đóng của chủ sử dụng tăng từ 750 baht lên 875 baht mỗi tháng là người có mức lương tháng vượt trần của cơ sở tính. Trần sau sửa đổi là 17,500 baht. Nghĩa là ở nhóm có lương tháng từ 17,500 baht trở lên, phần đóng sẽ nằm ở mức 875 baht, tăng 125 baht mỗi tháng và 1,500 baht mỗi năm cho mỗi người.
Vậy còn công nhân mới vào thì sao. Như đã xác nhận ở lớp 4, mức lương tháng làm cơ sở tính, kể cả làm thêm, chỉ khoảng 15,000 baht. Chưa tới trần mới 17,500 baht. Do đó dù trần có nâng từ 15,000 lên 17,500, phần đóng của chủ sử dụng đối với nhóm này vẫn giữ nguyên ở 750 baht. Khoản đóng là 5% của cơ sở tính, và người chưa chạm trần thì không bị ảnh hưởng bởi vị trí của trần. Chỉ nhóm có cơ sở tính đã chạm trần mới thấy khoản đóng nhảy lên 875 baht sau sửa đổi.
Điều cần nắm ở đây là dữ kiện rằng trong cùng một nhà máy, nhóm có chi phí tăng và nhóm không tăng đang bị chia làm hai.
| Nhóm đối tượng | Mức lương tháng làm cơ sở tính, gồm cả làm thêm | Ảnh hưởng của việc nâng trần |
|---|---|---|
| Công nhân mới vào | 15,000 baht, ngang mức trần trước sửa đổi | Không ảnh hưởng, chưa tới trần mới 17,500 |
| Công nhân thành thục và người đi hỗ trợ dây chuyền | Quanh mức trần | Ảnh hưởng một phần tùy mức lương |
| Trưởng nhóm và công nhân đa năng | Vượt trần | Phần chủ sử dụng từ 750 lên 875 baht |
| Kỹ thuật viên và nhân viên khối văn phòng | Vượt trần | Phần chủ sử dụng từ 750 lên 875 baht |
Cách chia làm hai này tác động trực tiếp lên quyết định đầu tư tự động hóa.
Nếu lấy việc tăng khoản đóng bảo hiểm xã hội làm căn cứ để giải thích rằng “giảm công nhân thì chi phí sẽ giảm”, lời giải thích đó không đứng được, vì ở nhóm công nhân khoản đóng không tăng. Ngược lại, nhóm chắc chắn tăng là trưởng nhóm, kỹ thuật viên và nhân viên khối văn phòng. Nhóm này không phải đối tượng bị giảm bởi tự động hóa. Trái lại, đưa thiết bị vào thì khối lượng công việc bảo trì và đổi mã hàng tăng lên, số người cần cho nhóm này còn dịch chuyển theo hướng tăng.
Nói cách khác, việc nâng trần bảo hiểm xã hội không phải vật liệu để đẩy quyết định đầu tư tự động hóa, mà là khoản chi phí thuộc phía tăng lên sau khi tự động hóa. Nếu đưa vào phép tính thì phải đưa vào phía chi phí phát sinh thêm, không phải phía cắt giảm. Nếu nhầm chỗ này rồi đi giải thích với công ty mẹ, về sau các con số sẽ không khớp.
Cách phân biệt công đoạn hoàn vốn được và công đoạn không hoàn vốn được khi tiết giảm nhân lực tại Thái Lan
Khi đã biết chi phí lao động thực tế, bước tiếp theo là cách chọn công đoạn. Cùng một thiết bị cùng một giá tiền, số năm hoàn vốn vẫn có thể lệch hơn gấp đôi tùy công đoạn. Các điều kiện phân định có thể gom thành 4 nhóm.
| Điều kiện đánh giá | Trạng thái của công đoạn hoàn vốn được | Trạng thái của công đoạn khó hoàn vốn |
|---|---|---|
| 1 Làm thêm giờ và làm ngày nghỉ | Vì công đoạn đó mà làm thêm giờ và làm ngày nghỉ phát sinh thường xuyên | Hầu như không làm thêm, kết thúc trong giờ làm việc tiêu chuẩn |
| 2 Mức độ định hình của công việc | Hình dạng phôi, tư thế cấp phôi và tần suất đổi mã hàng đều ổn định | Mã hàng đổi liên tục và mỗi lần đều cần người phán đoán để điều chỉnh |
| 3 Khoảng thời gian không bố trí được người | Có khối lượng việc muốn chạy ban đêm hoặc ngày nghỉ nhưng không xếp được người | Không có việc để chạy trong khung giờ muốn cho thiết bị hoạt động |
| 4 Khả năng chịu thiếu người | Số người làm được thao tác đó rất ít, hụt một người là sản xuất dừng | Ai cũng làm được, thiếu người thì điều người hỗ trợ sang bù |
Công đoạn thỏa từ 3 điều kiện trở lên trong 4 điều kiện là ưu tiên cao nhất. Ngược lại, công đoạn không thỏa cả điều kiện 1 lẫn điều kiện 3 thì dù đông người tới đâu, số năm hoàn vốn vẫn kéo dài. Bản thân việc đông người không phải căn cứ để hoàn vốn.
Xin bổ sung về điều kiện 2. Thứ đang được nhìn ở đây không phải độ khó mà là lượng dao động. Thao tác khó tới đâu, nếu điều kiện đã định hình thì vẫn giao được cho máy. Thao tác đơn giản tới đâu, nếu mỗi lần đều có người phán đoán rằng “phôi hôm nay hơi vênh nên phải đổi cách giữ”, thì phải cơ khí hóa cả phần phán đoán đó. Trường hợp sau làm số tiền đầu tư nhảy vọt. Những dự án có báo giá cao hơn dự kiến gần như đều có nguyên nhân ở điều kiện 2 này. Đưa yêu cầu chào giá ra ngoài mà chưa định hình trạng thái công đoạn thì phía nhà tích hợp hệ thống chỉ còn cách tính phần bất định thành rủi ro và cộng vào giá. Về cách vạch ranh giới này, mời xem cách chọn nhà tích hợp hệ thống robot và ranh giới trách nhiệm trong báo giá.
Điều kiện 1 và điều kiện 3 có thể quy thành số từ dữ liệu. Với điều kiện 1, chỉ cần xếp ra số giờ làm thêm và số ngày làm ngày nghỉ theo từng công đoạn trong 12 tháng gần nhất là đủ. Thứ cần xem ở đây không phải bình quân tháng mà là khoảng cách giữa tháng cao điểm và tháng thấp điểm. Công đoạn có khoảng cách lớn thì dù đưa thiết bị vào cũng cần quy cách đáp ứng năng lực của tháng cao điểm, làm số tiền đầu tư phình ra. Ngược lại, công đoạn tháng nào cũng đều đặn phát sinh làm thêm thì thiết kế năng lực dễ đọc và hiệu quả cũng ổn định. Điều kiện 3 là việc trong khung giờ muốn cho thiết bị hoạt động có việc để chạy hay không, nên đây là hạng mục phải hỏi phía kế hoạch sản xuất. Nếu có công đoạn không tổ chức được ca đêm và chỉ chạy ca ngày, thì lượng đơn hàng còn tồn của công đoạn đó chính là câu trả lời cho điều kiện 3.
Điều kiện 4 khó quy thành tiền, nhưng trên thực tế lại là điều kiện tác động mạnh nhất. Tình trạng một thao tác phụ thuộc vào đúng một người không phải vấn đề chi phí lao động mà là vấn đề rủi ro. Và trong môi trường tỷ lệ nghỉ việc vượt 20%, rủi ro này hiện thực hóa với một xác suất nhất định mỗi năm. Nó không vào được phép tính số năm hoàn vốn, nhưng làm lý do để ra quyết định thì đủ mạnh.
Có 3 kiểu điển hình dẫn tới việc đầu tư vào công đoạn không hoàn vốn được. Kiểu thứ nhất là chọn công đoạn đông người nhất. Số người thì dễ thấy, nhưng nếu công đoạn đó kết thúc trong giờ làm việc tiêu chuẩn thì phần cắt được chỉ là giờ thường có đơn giá thấp. Kiểu thứ hai là chọn công đoạn bị hiện trường phàn nàn nhiều nhất. Mức độ phàn nàn tỷ lệ thuận với độ vất vả của thao tác, nhưng không tỷ lệ thuận với độ lớn của chi phí. Kiểu thứ ba là chọn công đoạn mà công ty khác đã tự động hóa. Cấu hình của đối thủ cùng ngành được quyết định theo cơ cấu mã hàng và lượng đơn hàng của chính họ. Nếu điều kiện 2 và điều kiện 3 của mình khác đi thì cùng thiết bị đó số năm hoàn vốn vẫn khác.
Trong cả 3 kiểu, căn cứ chọn lựa đều nằm ở phía ngoài công đoạn, đó là “số người”, “phàn nàn” và “công ty khác”. Cả 4 điều kiện nêu trên đều là điều kiện nhìn vào chính trạng thái của công đoạn đang xét. Đặt lại căn cứ chọn lựa vào phía trong công đoạn là công việc đầu tiên cần làm.
Thứ tự quyết định kiểu thiết bị trước rồi mới đi tìm công đoạn cũng là kiểu thất bại thường gặp. Nếu vào từ kết luận là muốn tự động hóa việc vận chuyển, thì việc thay thế công đoạn vận chuyển bằng AGV và AMR sẽ tự biến thành mục đích, và phần xác nhận rằng việc vận chuyển đó thực tế đang tốn bao nhiêu người trong bao nhiêu giờ sẽ bị bỏ qua. Nếu tiền đề là người và máy cùng hoạt động trong một chỗ thì còn có lựa chọn đưa robot cộng tác vào đặt ngay bên cạnh người, nhưng mọi hướng đều lấy việc công đoạn thỏa 4 điều kiện làm tiền đề.
Thử tính hoàn vốn đầu tư tự động hóa theo 4 kịch bản

Từ đây xin đặt số cho một dự án cụ thể. Đối tượng là bán tự động hóa việc vận chuyển giữa các công đoạn và việc đóng thùng. Số tiền đầu tư lấy 4,000,000 baht. Chi tiết như dưới đây.
| Hạng mục | Số tiền (THB) |
|---|---|
| Thiết bị chính | 2,800,000 |
| Lắp đặt và gá kẹp | 700,000 |
| Kết nối phần mềm | 300,000 |
| Phụ tùng dự phòng và đào tạo | 200,000 |
| Tổng cộng | 4,000,000 |
Thiết bị chính chiếm 70% tổng số, 30% còn lại là lắp đặt, gá kẹp, kết nối phần mềm, phụ tùng dự phòng và đào tạo. Nếu bỏ 30% này ra khỏi báo giá để so sánh thì về sau sẽ thiếu ngân sách. Riêng gá kẹp và kết nối phần mềm có số tiền dịch chuyển theo điều kiện phía công đoạn, nên ở giai đoạn khái toán cần để một biên độ.
Tiếp theo là cộng dồn phía cắt giảm. Lấy chi phí lao động thực tế của 3 công nhân trực tiếp rồi trừ đi chi phí vận hành phát sinh thêm để chạy thiết bị.
| Chi tiết khoản giảm và khoản tăng lợi nhuận | Số tiền mỗi năm (THB) |
|---|---|
| Chi phí lao động thực tế của 3 công nhân trực tiếp (191,496 × 3) | 574,488 |
| Chi phí vận hành phát sinh thêm gồm điện, bảo trì và vật tư tiêu hao | -60,000 |
| Giảm ròng, chỉ tính thay thế chi phí lao động | 514,488 |
| Phần bỏ được việc làm ngày nghỉ | 79,200 |
| Lợi nhuận biên từ tăng sản lượng nhờ vận hành không người ban đêm | 480,000 |
| Tổng cộng gồm giảm ròng, bỏ làm ngày nghỉ và vận hành ban đêm | 1,073,688 |
Xin trình bày chi tiết phần bỏ được việc làm ngày nghỉ. Giả định trước đây mỗi tháng 2 lần, mỗi lần 10 giờ, 3 người đi làm. Trong đó 8 giờ là lao động ngày nghỉ nên tính gấp 2 lần giờ thường, tức 100 baht mỗi giờ. 2 giờ còn lại là ngoài giờ của ngày nghỉ nên gấp 3 lần, tức 150 baht mỗi giờ. Tính ra (8 × 100 + 2 × 150) × 3 người × 2 lần = 6,600 baht mỗi tháng, cả năm là 79,200 baht. Số người vẫn giữ nguyên 3 người, nhưng 79,200 baht này chắc chắn biến mất.
Phần tăng sản lượng nhờ vận hành không người ban đêm được đặt là 4 giờ nhân 20 ngày làm phần chạy thêm, cho lợi nhuận biên 40,000 baht mỗi tháng. Cả năm là 480,000 baht. Đây là hạng mục cần tiền đề bán được hàng, nên những nhà máy không có căn cứ từ phía nhu cầu thì không được đưa vào.
Kết hợp tất cả những điều trên sẽ ra 4 kịch bản.
| Kịch bản | Hiệu quả năm (THB) | Đầu tư thực tế (THB) | Số năm hoàn vốn |
|---|---|---|---|
| A Chỉ thay thế chi phí lao động | 514,500 | 4,000,000 | 7.8 năm |
| B Cộng thêm bỏ làm ngày nghỉ | 593,700 | 4,000,000 | 6.7 năm |
| C Cộng thêm tăng sản lượng nhờ vận hành không người ban đêm | 1,073,700 | 4,000,000 | 3.7 năm |
| D Cộng thêm biện pháp nâng cao hiệu suất sản xuất của BOI, có điều kiện | 1,073,700 | 2,000,000 đến 3,000,000 | 1.9 đến 2.8 năm |
Xin kiểm lại phép tính. 4,000,000 ÷ 514,488 = 7.775 nên là 7.8 năm. 4,000,000 ÷ 593,688 = 6.737 nên là 6.7 năm. 4,000,000 ÷ 1,073,688 = 3.726 nên là 3.7 năm. Ở kịch bản D có đầu tư thực tế giảm xuống, 2,000,000 ÷ 1,073,688 = 1.86 nên là 1.9 năm, và 3,000,000 ÷ 1,073,688 = 2.79 nên là 2.8 năm.
Chỉ thay thế chi phí lao động thì không đạt ngưỡng 5 năm
Đọc con số 7.8 năm của kịch bản A như thế nào. Bài viết này đặt ngưỡng số năm hoàn vốn là 5 năm. Tiêu chuẩn nội bộ khác nhau theo từng công ty, nhưng tiền đề ở đây là vượt mức này thì tờ trình rất khó qua được công ty mẹ.
Với tiền đề đó, 7.8 năm là không qua. Và điều đáng lưu ý là kịch bản A không phải một phép tính làm cho có. Chi phí lao động được đặt bằng số thực tế 191,496 baht chứ không phải lương cơ bản, chi phí vận hành phát sinh thêm 60,000 baht cũng đã bị trừ đi đầy đủ. Nghĩa là dù cộng dồn cách nghĩ thay thế chi phí lao động tới hết sức thì cũng chỉ tới được mức này.
Lý do không tới được nằm ở cấu trúc của tử số. 514,488 baht mỗi năm chỉ bằng 12.9% của khoản đầu tư 4,000,000 baht. Ở một quốc gia mà chi phí thực tế của một công nhân là khoảng 191,496 baht mỗi năm, thì dù một thiết bị thay được 3 người, mức trần vẫn nằm ở khoảng 500,000 baht mỗi năm. Trần này sẽ không nhích lên chừng nào tiền lương còn giữ nguyên. Nghĩa là có chờ thì số năm hoàn vốn cũng không ngắn lại.
Từ đây rút ra 2 kết luận. Một là tại Thái Lan, một tờ trình tự động hóa chỉ lấy số tiền cắt giảm chi phí lao động làm căn cứ thì về cơ bản không qua được. Hai là nếu vẫn có những dự án qua được, thì trong phép tính của chúng đã có mặt các hiệu quả ngoài chi phí lao động.
Sẽ có lúc muốn dựng lời giải thích cộng thêm người thứ 4, người thứ 5 để rút ngắn số năm, nhưng cách này sẽ vỡ khi thực thi. Đưa thiết bị vào rồi thì trong thời gian đầu hiện trường vẫn không buông số người đó. Giai đoạn chạy thử cần người đứng kèm để trông, khi có sự cố thì quay lại làm tay. Việc giảm số người đến sau cùng. Nếu viết trước phần giảm người để tờ trình được duyệt, thì báo cáo kết quả năm sau chắc chắn lệch. Về góc nhìn số tiền cắt giảm thực tế đạt tới đâu ở các dự án cùng loại, mời xem các trường hợp tiết giảm nhân lực và hiệu quả chi phí theo số tiền thực tế.
Thứ đưa được tới ngưỡng là việc kéo dài thời gian vận hành
Điều mà kịch bản B và C cho thấy là có 2 hướng để làm tử số lớn lên.
Kịch bản B cộng thêm 79,200 baht từ việc bỏ làm ngày nghỉ. Hiệu quả là từ 7.8 năm xuống 6.7 năm, cải thiện được 1.1 năm. Vẫn chưa tới ngưỡng, nhưng hạng mục này có ưu điểm là độ chắc chắn cao. Việc làm ngày nghỉ có lưu trong dữ liệu chấm công nên số tiền cắt giảm có thể kiểm chứng lại về sau. Khác với giảm số người, sức phản kháng từ hiện trường cũng nhỏ. Độ lớn của hiệu quả chỉ ở mức trung bình, nhưng sức thuyết phục trong tờ trình lại mạnh.
Kịch bản C cộng thêm 480,000 baht từ vận hành không người ban đêm. Ở đây số năm về 3.7 năm và cắt qua được ngưỡng. Độ lớn của hiệu quả khác hẳn về bậc, vì đây không phải cắt giảm chi phí mà là cộng thêm thời gian. Cho thiết bị chạy trong khung giờ không bố trí được người thì hiệu quả cộng thêm được mà không liên quan gì tới trần của phần cắt giảm. Cùng thiết bị đó, cùng số người đó, chỉ có thời gian vận hành dài ra.
Hiểu được cấu trúc này thì cách chọn công đoạn cũng thay đổi. Thứ cần đi tìm không phải công đoạn đông người, mà là công đoạn có khung thời gian muốn cho thiết bị chạy nhưng không xếp được người. Công đoạn không đảm bảo được nhân lực ca đêm nên chỉ chạy ca ngày, công đoạn muốn chạy ngày nghỉ nhưng không gom được người. Đó là những ứng viên đầu tiên.
Tuy nhiên kịch bản C có tiền đề. Đó là phần tăng sản lượng phải bán được. Lợi nhuận biên 40,000 baht mỗi tháng chỉ thành lập khi có căn cứ từ phía nhu cầu rằng sản xuất nhiều hơn thì bán được nhiều hơn. Nếu đơn hàng không tăng mà vẫn sản xuất ban đêm thì chỉ tăng tồn kho, hiệu quả không phải bằng không mà là âm. Ở những nhà máy không dựng được tiền đề này thì không được đưa kịch bản C vào phép tính.
Tiền đề thứ hai là thiết bị phải chạy thật. Phần chạy thêm 4 giờ nhân 20 ngày ban đêm lấy việc thiết bị không dừng trong khung giờ đó làm tiền đề. Nếu nó dừng vào lúc không có người trông thì toàn bộ khoảng thời gian tới khi phục hồi sáng hôm sau thành tổn thất. Khoản 60,000 baht mỗi năm được đặt làm chi phí vận hành phát sinh thêm chỉ gồm điện, bảo trì và vật tư tiêu hao, trong đó không có tổn thất do dừng máy. Vì vậy nếu muốn đưa kịch bản C vào phép tính thì việc đảm bảo thời gian chạy liên tục không người bằng cách nào sẽ trở thành một hạng mục thiết kế. Dung lượng bộ tích phôi ở phía cấp, dung lượng nhận ở phía xả, cơ chế tự dừng khi có bất thường và giữ nguyên trạng thái tới sáng. Nếu cộng hiệu quả vận hành ban đêm cho một thiết bị chưa có 3 điểm này trong thiết kế, thì kết quả thực tế sẽ không tới được con số đã tính.
Phương án thay thế cho trường hợp đó là dùng vận hành không người ban đêm theo hướng “san bằng tải” thay vì “tăng sản lượng”. Nếu chuyển được phần tải đang dồn vào ban ngày sang ban đêm thì làm thêm giờ và làm ngày nghỉ ban ngày sẽ giảm. Hiệu quả trở thành phần kéo dài của kịch bản B, số tiền nhỏ hơn, nhưng không cần tới tiền đề về nhu cầu. Để san bằng tải mà không phải giữ tồn kho thì thường phải tự động hóa cả việc lưu trữ và xuất hàng, và trong trường hợp đó cần xem kèm khung giá của kho tự động và cách đánh giá quyết định đầu tư.
Cắt từ giờ làm thêm chứ không cắt từ con người, thứ tự ưu tiên của đối tượng cắt giảm

Từ việc so sánh các kịch bản có thể thấy đối tượng cắt giảm có thứ tự. Nguyên tắc là lấy lần lượt từ thứ có đơn giá cao và dễ thực hiện trước.
| Thứ tự | Đối tượng cắt giảm | Tính chất của đơn giá | Độ khó thực hiện | Độ chắc chắn của hiệu quả |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Giờ làm thêm | Gấp 1.5 lần giờ thường | Thấp | Cao |
| 2 | Làm ngày nghỉ | Gấp 2 lần và gấp 3 lần giờ thường | Thấp | Cao |
| 3 | Khả năng chịu thiếu người, gồm điều người hỗ trợ, thuê thêm lao động ngoài và khối lượng đào tạo đa năng | Biến động nên khó thấy | Trung bình | Trung bình |
| 4 | Bản thân số người | Lương cơ bản cộng phụ cấp cộng phúc lợi theo luật | Cao | Thấp |
Thứ tự này có lý do.
Lý do làm thêm giờ đứng thứ nhất là đơn giá. Như đã đặt ở lớp 3, đơn giá làm thêm bằng 1.5 lần đơn giá giờ thường 50 baht, tức 75 baht. Nếu cùng cắt 1 giờ, cắt 1 giờ làm thêm có hiệu quả gấp 1.5 lần cắt 1 giờ thường. Hơn nữa làm thêm có lưu trong dữ liệu chấm công nên so sánh trước và sau khi cắt giảm cho ra được con số. Việc hiệu quả hiện ra ngay tháng sau khi đưa thiết bị vào là một điểm rất lớn trong việc tạo đồng thuận nội bộ.
Làm ngày nghỉ đứng thứ hai còn có đơn giá cao hơn. Gấp 2 lần giờ thường, và nếu là ngoài giờ của ngày nghỉ thì gấp 3 lần. Trong phép tính của bài viết này, mỗi tháng 2 lần cho ra 79,200 baht mỗi năm, còn công đoạn phải đi làm mỗi tuần thì con số này sẽ gấp hơn 4 lần. Tuy nhiên việc làm ngày nghỉ thường phát sinh vì lý do “không đi làm ngày đó thì không kịp giao hàng”, nên nếu năng lực thiết bị không đủ thì không bỏ được. Cần đưa việc bỏ làm ngày nghỉ vào ngay từ giai đoạn thiết kế năng lực.
Khả năng chịu thiếu người đứng thứ ba là vùng khó quy thành tiền. Việc điều người hỗ trợ khi hụt người, việc thuê thêm lao động ngoài, giờ công đào tạo để có công nhân đa năng. Những khoản này chỉ hiện ra ở tháng chúng phát sinh và rất khó xuất hiện trong ngân sách năm. Dù vậy nếu bỏ qua hạng mục này thì một phần giá trị của tự động hóa sẽ biến khỏi phép tính. Nếu muốn chốt bằng số, cách thực tế là lấy số ngày phát sinh thiếu người trong 1 năm gần nhất và số giờ làm thêm phát sinh thêm vào lúc đó.
Đứng thứ tư là số người. Lý do đặt nó sau cùng là đơn giá cắt giảm thấp nhất và độ khó thực hiện cao nhất. Đơn giá của một người bằng mức lương cơ bản và phụ cấp cộng thêm phúc lợi theo luật. So với phần phụ trội của làm thêm giờ và làm ngày nghỉ thì đây là loại thời gian có đơn giá thấp. Thêm nữa, việc giảm số người kéo theo điều chuyển vị trí và đào tạo, cần thời gian mới thực hiện được. Nó không xảy ra đồng thời với lúc chạy thử thiết bị.
Vì sao một phép tính đảo ngược thứ tự lại nguy hiểm, là vì số năm hoàn vốn ở đó được dựng trên một tiền đề vốn không thể thành hiện thực. Phép tính đặt việc giảm số người lên trước sẽ cho ra số năm hoàn vốn ngắn nhất trên giấy. Nhưng ở giai đoạn thực thi mà số người không giảm thì số năm đó không đạt được. Trong khi đó phép tính cộng dồn từ làm thêm giờ và làm ngày nghỉ cho ra số năm dài hơn, nhưng sẽ đạt được. Về dài hạn, việc làm cho con số dùng để duyệt tờ trình khớp với con số có thể đạt được mới là thứ có tác dụng.
Còn một lưu ý mang tính thực tế. Cắt làm thêm giờ thì thu nhập thực nhận của công nhân giảm. Khoản 3,000 baht ở lớp 3 là chi phí của công ty, nhưng với bản thân người lao động thì đó là thu nhập. Hiện tượng số người nghỉ việc tăng lên đúng vào tháng làm thêm giờ biến mất không phải chuyện hiếm. Nếu tỷ lệ nghỉ việc 20% đặt ở lớp 5 xấu đi, thì khoản chi phí lẽ ra đã cắt được sẽ quay về dưới dạng chi phí tuyển dụng và đào tạo. Cùng lúc với việc cắt làm thêm giờ, cần xem xét việc rà lại lương cơ bản và các loại phụ cấp, hoặc phân bổ lại dưới dạng phụ cấp công nhân đa năng. Một dự án tiết giảm nhân lực không tính tới điểm này sẽ thấy chi phí lao động trở về mức cũ sau 1 năm.
Biện pháp nâng cao hiệu suất sản xuất của BOI và những cái bẫy về mặt chế độ
Lý do kịch bản D hạ đầu tư thực tế xuống 2,000,000 đến 3,000,000 baht là vì nó lấy biện pháp nâng cao hiệu suất sản xuất của BOI làm tiền đề. Bộ khung của chế độ được cho là như sau.
Số tiền đầu tư tối thiểu là từ 1 triệu baht trở lên, với doanh nghiệp vừa và nhỏ là từ 500,000 baht trở lên. Khoản đầu tư thay thế hướng tới tự động hóa được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm, và mức trần miễn thuế được cho là 50% của số tiền đầu tư tự động hóa. Trong trường hợp thỏa các điều kiện như tỷ lệ mua từ nhà sản xuất trong nước đạt 30% trở lên, mức trần được cho là nâng lên 100%.
Tuy nhiên, phần mô tả về biện pháp này chỉ nên dừng ở mức khái quát chế độ. Vì các thông báo của BOI vẫn được sửa đổi, nên trước khi làm thủ tục xin cần xác nhận lại với BOI và với đơn vị tư vấn. Không được dùng thẳng các con số trong bài viết này làm điều kiện xin ưu đãi cho công ty mình. Phạm vi đối tượng được ưu đãi, thời hạn làm thủ tục, quan hệ với hoạt động kinh doanh hiện có và các giấy tờ cần thiết đều là vùng có cách phán đoán khác nhau theo từng dự án, và nơi để xác nhận là BOI cùng với đơn vị tư vấn kế toán và pháp lý.
Xin nêu 3 cái bẫy về mặt chế độ.
Cái thứ nhất là việc miễn thuế thu nhập doanh nghiệp không có giá trị nếu không có thu nhập chịu thuế. Cho dù hạn mức miễn là 50% của số tiền đầu tư tự động hóa, nếu trong 3 năm không phát sinh thu nhập chịu thuế tương xứng thì không dùng hết hạn mức. Với pháp nhân đang lỗ liên tục, hoặc pháp nhân đang trong thời gian miễn thuế theo một ưu đãi hiện có, một phần hạn mức sẽ mất đi. Lý do đầu tư thực tế của kịch bản D được để biên độ từ 2,000,000 đến 3,000,000 baht chính là để diễn đạt sự bất định của tỷ lệ dùng hết hạn mức này. Nếu dựng tờ trình trên tiền đề là mức thấp nhất của biên độ thì kết quả thực tế sẽ không tới.
Cái thứ hai là điều kiện về nơi mua. Việc tỷ lệ mua từ nhà sản xuất trong nước được nêu làm điều kiện để nâng trần lên 100% có nghĩa là lựa chọn nguồn cung tác động trực tiếp lên số tiền ưu đãi. Giữa cấu hình nhập thiết bị Nhật từ Nhật về và cấu hình chế tạo trong Thái Lan, không chỉ bản thân số tiền đầu tư mà cả đầu tư thực tế cũng khác nhau. Cần chia sẻ góc nhìn này với bộ phận mua hàng trước khi chốt quy cách thiết bị. Phần so sánh giữa chế tạo nội địa và chế tạo tại Nhật cũng được nhắc tới ở mục câu hỏi thường gặp phía sau.
Cái thứ ba là thứ tự giữa việc làm thủ tục và việc đặt hàng. Có những sự cố kiểu đã dựng phép tính lấy ưu đãi làm tiền đề, nhưng thực tế lại đặt hàng trước khi làm thủ tục xin. Phải nộp gì và trước thời hạn nào thì phụ thuộc vào chi tiết của chế độ, nên ở đây nơi để xác nhận cũng là BOI và đơn vị tư vấn. Nếu muốn nắm toàn cảnh chế độ trước, mời tham khảo bài viết sắp xếp lại quan hệ giữa tự động hóa nhà máy tại Thái Lan và các ưu đãi của BOI.
Về cách viết tờ trình, việc đưa ưu đãi vào phía mẫu số dưới dạng “giảm đầu tư thực tế” hay trình bày riêng một khoản dưới dạng “giảm gánh nặng thuế” sẽ cho ra hai cách nhìn khác nhau. Kịch bản D của bài viết này chọn cách đưa vào phía mẫu số, nhưng cách này làm số năm hoàn vốn kéo dài đột ngột khi ưu đãi không dùng được như dự kiến. Nếu cố định mẫu số ở 4,000,000 baht và viết ưu đãi thành một hiệu quả kèm theo ở khoản riêng, thì kịch bản chính vẫn đứng ở 3.7 năm không đổi và ưu đãi được xử lý như phần vượt lên. Nếu phải ra quyết định trong khi vẫn mang theo sự bất định của chế độ thì cách sau khó bị sụp lời giải thích hơn.
Một phép tính lấy chế độ làm tiền đề sẽ vỡ khi điều kiện thay đổi. Do đó, an toàn nhất là đặt kịch bản chính trong tờ trình ở mức 3.7 năm của kịch bản C, và ghi kèm D như phần “vượt lên khi điều kiện hội đủ”. Nếu đặt con số 1.9 năm vào trung tâm lập luận, thì tại thời điểm ưu đãi không dùng được như dự kiến, toàn bộ lời giải thích cho dự án sẽ sụp.
Cách triển khai để đi tới quyết định làm hay không làm trong 90 ngày
Xin quy toàn bộ nội dung trên thành trình tự để đi tới quyết định thật. Mốc thời gian lấy là 90 ngày. Xem xét kéo dài hơn cũng không có thêm thông tin, còn tình hình lực lượng lao động thì dịch chuyển trước.
Kỳ 1, khoảng 30 ngày, là kỳ gom số liệu. Việc cần làm gói lại thành 3 điều. Thứ nhất, với các công đoạn ứng viên, hãy trích ra số giờ làm thêm và số ngày làm ngày nghỉ trong 12 tháng gần nhất theo từng công đoạn. Quan trọng là theo từng công đoạn chứ không phải tổng của toàn công ty, và nhà máy nào chưa lấy được số này thì phải bắt đầu từ chính việc tổng hợp đó. Thứ hai, hãy dựng lại chi phí lao động thực tế thành 5 lớp bằng điều kiện của công ty mình. Tỷ lệ phí bảo hiểm tai nạn lao động ở lớp 4 và các loại phụ cấp ở lớp 2 khác nhau theo từng công ty, nên đừng dùng thẳng con số 15,958 baht của bài viết này mà hãy dựng bằng giá trị của mình. Thứ ba, hãy lấy các lần thiếu người trong 12 tháng gần nhất và số giờ làm thêm phát sinh thêm vào lúc đó. Có đủ 3 điều này thì việc khoanh vùng công đoạn theo 4 điều kiện mới làm được bằng số.
Kỳ 2, khoảng 30 ngày, là kỳ định hình điều kiện của công đoạn. Hãy khoanh lại còn 1 hoặc 2 công đoạn, rồi viết ra hình dạng phôi, tư thế cấp phôi, tần suất và cách đổi mã hàng, cùng thời gian nhịp (takt time) cần thiết. Đưa yêu cầu chào giá ra ngoài mà chưa định hình chỗ này thì báo giá sẽ là số tiền có tính cả phần bất định. Đồng thời, hãy xác nhận với bộ phận kinh doanh xem có đưa vận hành không người ban đêm vào phần hiệu quả hay không. Nếu kinh doanh không trả lời được câu hỏi phần tăng sản lượng có bán được hay không, thì kịch bản C không dùng được, nên phải chuyển sang phương hướng thiết kế theo hướng san bằng tải. Để phán đoán này lại sau thì sẽ phải làm lại thiết kế năng lực thiết bị.
Kỳ 3, khoảng 30 ngày, là kỳ đối chiếu số tiền với các điều kiện. Hãy lấy báo giá khái toán, đưa số liệu của mình vào 4 kịch bản và tính ra số năm hoàn vốn. Song song đó hãy xác nhận với đơn vị tư vấn xem ưu đãi của BOI có dùng được hay không, và lập cả hai bộ số năm, một bộ với tiền đề dùng được và một bộ với tiền đề không dùng được. Trên cơ sở đó hãy quyết định kịch bản chính để đưa vào tờ trình.
Nếu qua 3 kỳ này vẫn không phán đoán được, nguyên nhân gần như luôn nằm ở chỗ số liệu của kỳ 1 chưa đủ. Nhà máy chưa lấy được thành tích làm thêm giờ theo từng công đoạn thì không có căn cứ để quyết công đoạn nào là ứng viên, nên việc xem xét sẽ trôi sang cuộc tranh luận về kiểu thiết bị. Trao đổi với bên ngoài trong trạng thái đó thì sẽ phải làm cùng nhau từ bước chọn công đoạn và thời gian bị kéo dài. Có nên đi qua bước trình tự dùng tư vấn tự động hóa để chọn công đoạn đối tượng trước hay không thì cứ phán đoán theo việc số liệu của kỳ 1 tự lấy được hay không.
Cả những người cần kéo vào cũng nên quyết ngay từ đầu. Kỳ 1 cần nhân sự và hành chính, cho phần 5 lớp chi phí lao động và dữ liệu chấm công, cùng với sản xuất, cho phần làm thêm giờ và thiếu người theo từng công đoạn. Kỳ 2 lấy kỹ thuật sản xuất và bảo trì làm vai chính, thêm vào đó là xác nhận với kinh doanh về khả năng tăng sản lượng. Kỳ 3 có kế toán và đơn vị tư vấn phụ trách ưu đãi BOI tham gia. Nếu không đưa vào theo thứ tự này thì tới kỳ 3 mới xuất hiện những ý kiến kiểu “hiệu quả đó kinh doanh không bảo đảm được” hay “ưu đãi đó với tình trạng công ty ta thì không dùng được”, và phải làm lại phép tính. Nguyên nhân khiến mốc 90 ngày bị vỡ thường nằm ở việc kéo người vào muộn hơn là ở việc chậm trễ trong xem xét kỹ thuật.
Đi tới kết luận “không làm” trong 90 ngày cũng là một thành quả đúng đắn. Đầu tư vào công đoạn không thỏa bất cứ điều nào trong 4 điều kiện thì chỉ làm số năm hoàn vốn kéo dài ra. Tuy nhiên đừng kết thúc ở chỗ “không làm”, mà hãy đưa ra câu trả lời cho câu hỏi sang năm còn vận hành được công đoạn đó với đúng số người như hiện nay hay không. Nếu câu trả lời là “đáng lo” thì cần một kế hoạch xử lý sự đáng lo đó bằng phương tiện khác ngoài tự động hóa.
Câu hỏi thường gặp
Với vai trò là biện pháp đối phó chi phí nhân công tăng cao tại Thái Lan, tự động hóa bắt đầu được từ mức bao nhiêu tiền?
Dự án bán tự động hóa vận chuyển giữa công đoạn và đóng thùng được tính trong bài viết này có quy mô 4,000,000 baht, nhưng số tiền đó không phải mức sàn. Từ chỗ biện pháp nâng cao hiệu suất sản xuất của BOI lấy điều kiện là số tiền đầu tư tối thiểu từ 1 triệu baht trở lên, với doanh nghiệp vừa và nhỏ là từ 500,000 baht trở lên, cũng thấy được rằng các dự án quy mô 1 triệu baht vốn đã nằm trong dự kiến của chế độ.
Thay vì đi tìm mức sàn của số tiền, việc xác nhận mức sàn của hiệu quả mới thực tế hơn. Nếu đặt vào tử số của phép hoàn vốn một mức chỉ gồm thay thế chi phí lao động là 514,488 baht mỗi năm, thì để hoàn vốn trong 5 năm, số tiền đầu tư cần gói lại trong khoảng 2,500,000 baht. Ngược lại, nếu đã bỏ ra 4,000,000 baht thì không cộng thêm phần kéo dài thời gian vận hành vào hiệu quả sẽ không đạt số năm. Nghĩa là tính hợp lý của số tiền đầu tư được quyết định bởi cấu trúc của tử số, không phải bởi giá trị tuyệt đối của số tiền.
Nếu muốn bắt đầu nhỏ thì có 2 cách nghĩ. Một là thu hẹp phạm vi đối tượng, chỉ làm vận chuyển hoặc chỉ làm đóng thùng. Cách còn lại là để phần kết nối với thiết bị hiện có lại sau, nhưng cắt phần kết nối phần mềm thì sẽ không lấy được dữ liệu thực tế và không kiểm chứng được hiệu quả, nên xét về thứ tự cắt thì không nên. Nếu phải cắt thì hãy cắt phạm vi công đoạn đối tượng, đừng cắt phụ tùng dự phòng và đào tạo.
Thiếu công nhân tại Thái Lan có thật sự được giải quyết bằng tự động hóa?
Nếu xét theo từng nhà máy thì có thể làm nhỏ ảnh hưởng của sự thiếu hụt bằng cách giảm số người cần thiết. Dự báo của NESDC cũng cho rằng nâng năng suất lên khoảng 5% thì giảm được hơn 2 triệu người trong nhu cầu lao động, nên về hướng đi thì đây là cách có hiệu lực. Mặt khác, xét thực trạng tỷ lệ áp dụng tự động hóa của ngành chế tạo Thái Lan chỉ ở khoảng 5%, rất khó đặt tiền đề rằng bản thân sự thiếu hụt sẽ được giải tỏa bằng tự động hóa.
Câu trả lời trên thực tế là như sau. Tự động hóa không giải quyết sự thiếu hụt, nó là phương tiện để làm nhỏ diện tích chịu ảnh hưởng của sự thiếu hụt. Nó xóa bỏ tình trạng chỉ có đúng một người làm được một thao tác nào đó, và cắt con đường mà một lần tuyển dụng thất bại dẫn thẳng tới việc sản xuất bị dừng. Dưới triển vọng nhu cầu lao động tăng tới 44.71 triệu người vào năm 2037, việc thu nhỏ diện tích này là phương tiện thực tế duy nhất để bảo vệ tính liên tục của sản xuất.
Do đó đối tượng cần ưu tiên không phải công đoạn đông người. Đó là công đoạn sẽ dừng khi thiếu người. Xử lý trước những công đoạn thuộc điều kiện 4 trong 4 điều kiện của bài viết này thì dù số tiền cắt giảm chi phí lao động nhỏ, khả năng chịu đựng sự thiếu hụt vẫn tăng lên rất nhiều.
Tiết giảm nhân lực ở nhà máy nước ngoài có dùng được cùng cách nghĩ như tại Nhật?
Bộ khung thì giống nhau, nhưng các hệ số khác nhau. Khác biệt gom lại thành 3 điểm.
Thứ nhất, tỷ lệ giữa tiền lương và chi phí lao động thực tế khác nhau. Trong phép tính của bài viết này, chi phí thực tế bằng khoảng 1.33 lần tổng của lương cơ bản và các loại phụ cấp. Hệ số này được quyết định bởi mức phúc lợi theo luật và mức tỷ lệ nghỉ việc, nên không phải con số dùng thẳng được cho nhà máy tại Nhật. Trước khi tính số năm hoàn vốn, nhất định phải dựng lại 5 lớp bằng điều kiện của quốc gia và của cơ sở mình.
Thứ hai, cách dịch chuyển của đơn giá tiền lương khác nhau. Tại Thái Lan, ở thời điểm 2026 lương tối thiểu đang giữ nguyên và mức 337 baht đến 400 baht mỗi ngày vẫn tiếp tục. Nếu đưa vào phép tính phần tăng của số tiền cắt giảm trong tương lai dựa trên tiền đề lương sẽ tăng, thì tiền đề đó sẽ sụp. Giả định “từ nay vẫn còn tăng” thường dùng khi xem xét ở Nhật không mang thẳng sang đây được.
Thứ ba, cơ chế bảo trì khác nhau. Việc sau khi đưa thiết bị vào có tự sửa được hay không sẽ quyết định tỷ lệ vận hành thực tế. Nếu muốn cộng vận hành không người ban đêm vào hiệu quả thì cơ chế phục hồi được trước sáng là tiền đề. Cần đưa thiết kế chuyển một phần nhân lực giảm được sang phía bảo trì vào ngay từ giai đoạn đầu tư. Cắt chỗ này thì con số 480,000 baht của kịch bản C sẽ chỉ nằm lại trên giấy tính.
Hoàn vốn đầu tư tự động hóa bao nhiêu năm thì hợp lý?
Bài viết này đặt 5 năm làm ngưỡng. Tuy nhiên đó chỉ là tiền đề, còn bao nhiêu năm là hợp lý với tiêu chuẩn nội bộ thì được quyết định bởi việc dùng thiết bị đó trong bao nhiêu năm và công đoạn đối tượng còn tiếp tục bao nhiêu năm.
Trên thực tế, cần nhìn cấu trúc của số năm hơn là giá trị tuyệt đối của số năm. Khi đặt 7.8 năm và 3.7 năm cạnh nhau, trong khoảng chênh 4.1 năm thì 1.1 năm đến từ việc bỏ làm ngày nghỉ và 3.0 năm còn lại đến từ việc kéo dài thời gian vận hành. Nghĩa là phần lớn biên độ rút ngắn không phải từ cắt giảm chi phí lao động. Nếu giải thích được phần chi tiết này thì với 7.8 năm vẫn ra quyết định được. Ngược lại, dù số năm ngắn như 3.7 năm, nếu chi tiết bên trong lại phụ thuộc vào việc giảm số người và triển vọng thực hiện mờ nhạt, thì số năm đó không đạt được.
Một cách nhìn khác là so với số năm trong trường hợp không đầu tư. Nếu câu hỏi sang năm còn vận hành được công đoạn đó với đúng số người như hiện nay hay không đã có câu trả lời là “đáng lo”, thì đối tượng để so sánh không phải “giữ nguyên hiện trạng với số năm hoàn vốn bằng không”. Đối tượng so sánh là trạng thái có giảm sản lượng ở tháng thiếu người, có làm thêm giờ ở công đoạn khác do phải đi hỗ trợ, và có phát sinh thêm chi phí tuyển dụng đào tạo. Nêu rõ phép so sánh này thì cách nhìn về con số 6.7 năm sẽ thay đổi.
Thiết bị tự động hóa tại Thái Lan thì chế tạo nội địa hay chế tạo tại Nhật có lợi hơn?
Nếu chỉ so số tiền đầu tư thì có nhiều tình huống chế tạo nội địa có lợi, nhưng vật liệu để phán đoán gồm 3 thứ.
Một là đầu tư thực tế. Ở biện pháp nâng cao hiệu suất sản xuất của BOI, trần miễn thuế được cho là thay đổi theo các điều kiện như tỷ lệ mua từ nhà sản xuất trong nước đạt 30% trở lên. Nghĩa là cấu hình nguồn cung ảnh hưởng tới số tiền ưu đãi. Tuy nhiên các điều kiện vẫn được sửa đổi, nên trước khi làm thủ tục xin cần xác nhận lại với BOI và với đơn vị tư vấn. Nếu không hoàn tất việc xác nhận này trước khi chốt quy cách thiết bị thì về sau không đổi được nguồn cung.
Thứ hai là tốc độ ứng phó sau khi chạy thử. Là cấu hình xử lý được tại chỗ khi có sự cố, hay cấu hình cần vận chuyển phụ tùng từ Nhật sang. Với những dự án cộng vận hành không người ban đêm vào hiệu quả, khoảng chênh này hiện thẳng ra thành tiền qua tỷ lệ vận hành. Phép tính của bài viết này đặt chi phí vận hành phát sinh thêm là 60,000 baht mỗi năm, nhưng với cấu hình ứng phó chậm thì khoản chi này và tổn thất do dừng máy sẽ phình ra.
Thứ ba là mức độ định hình của quy cách. Dự án đã định hình được điều kiện của phôi và truyền đạt được bằng bản vẽ thì chế tạo nội địa vẫn đọc được chất lượng. Ngược lại, đưa một dự án chưa định hình điều kiện cho bên báo giá rẻ hơn thì số lần sửa lại tăng và tổng chi phí đảo ngược. Thứ tự phán đoán là “quy cách đã định hình chưa” trước, không phải “chế tạo ở đâu”. Định hình rồi mới so sánh thì chọn bên nào cũng không chệch nhiều.
Tóm lại
Xin sắp xếp lại lập luận của bài viết này.
Chi phí nhân công tại Thái Lan, theo nghĩa đơn giá tiền lương, đang giữ nguyên ở thời điểm 2026. Vùng thủ đô Bangkok đã tăng từ 372 baht lên 400 baht vào ngày 1 tháng 7 năm 2025, nhưng sau đó không có lần điều chỉnh nào, và trên toàn quốc mức 337 baht đến 400 baht vẫn tiếp tục. Thứ đang tăng nằm ở phía ngoài tiền lương, tức mức trần cơ sở tính bảo hiểm xã hội và chi phí tuyển dụng đào tạo đi kèm việc nghỉ việc.
Chi phí lao động thực tế gồm 5 lớp, với một công nhân là 15,958 baht mỗi tháng và khoảng 191,500 baht mỗi năm. So với 144,000 baht khi chỉ nhìn lương cơ bản và các loại phụ cấp thì bằng khoảng 1.33 lần. Tính số năm hoàn vốn mà không đưa hệ số này vào sẽ lệch hơn 2 năm.
Ảnh hưởng của việc trần cơ sở tính bảo hiểm xã hội tăng từ 15,000 baht lên 17,500 baht và phần đóng của chủ sử dụng tăng từ 750 baht lên 875 baht không tác động tới công nhân mới vào. Nhóm chịu tác động là trưởng nhóm, kỹ thuật viên và nhân viên khối văn phòng, và nhóm này thuộc phía tăng lên chứ không phải phía giảm đi khi tự động hóa. Do đó việc nâng trần cần được đưa vào phép tính như chi phí phát sinh thêm, không phải như căn cứ cắt giảm.
Với dự án đầu tư 4,000,000 baht, nếu chỉ thay thế chi phí lao động thì hoàn vốn 7.8 năm và không đạt ngưỡng. Cộng thêm việc bỏ làm ngày nghỉ thành 6.7 năm, cộng thêm tăng sản lượng nhờ vận hành không người ban đêm thành 3.7 năm. Nếu dùng được biện pháp nâng cao hiệu suất sản xuất của BOI thì rút xuống 1.9 năm đến 2.8 năm, nhưng vì các thông báo vẫn được sửa đổi nên trước khi làm thủ tục xin cần xác nhận lại với BOI và với đơn vị tư vấn, và nếu thu nhập chịu thuế trong 3 năm không đủ thì không dùng hết hạn mức.
Thứ tự cắt giảm là làm thêm giờ, làm ngày nghỉ, khả năng chịu thiếu người, rồi mới đến số người. Phép tính đặt số người lên trước cho ra số năm ngắn nhất trên giấy, nhưng không đạt được ở giai đoạn thực thi.
Và trục phán đoán không phải lương giờ sẽ tăng thêm bao nhiêu baht. Trục đúng là sang năm còn vận hành được công đoạn đó với đúng số người như hiện nay hay không. Trong môi trường mà nhu cầu lao động tăng tới 44.71 triệu người hướng tới năm 2037 trong khi lực lượng lao động giảm hơn 3 triệu người mỗi 10 năm, thì bản thân việc đưa ra câu trả lời cho câu hỏi này đã là một quyết định đầu tư.
Dù chỉ ở giai đoạn sắp xếp xem công đoạn của mình thỏa điều kiện nào trong 4 điều kiện, hay dựng lại 5 lớp chi phí lao động theo điều kiện của mình sẽ ra kết quả thế nào, cũng không sao. TOMAS TECH lấy Bangkok làm cơ sở, thực hiện xây dựng hệ thống FA, thiết kế và chế tạo tủ điều khiển cùng việc triển khai hệ thống quản lý sản xuất cho các doanh nghiệp chế tạo Nhật Bản tại Thái Lan, và nhận trao đổi ngay từ giai đoạn hình thành ý tưởng, trước khi quyết định có đầu tư hay không. Kể cả khi chỉ muốn cùng xác nhận cách đặt các con số, xin liên hệ qua trang liên hệ và chúng tôi sẽ hỗ trợ.
Nguồn tham khảo
- https://www.jetro.go.jp/biznews/2025/07/b21007a1ac8f7fca.html
- https://www.jetro.go.jp/biznews/2025/12/98e85145415653f4.html
- https://bangkokshuho.com/thaieconomy-87/
- https://bangkokshuho.com/thainews-948/
- https://www.jetro.go.jp/world/asia/th/invest_03.html
- https://www.boi.go.th/upload/content/BOI%20Thailand%20Investment%20Promotion%20Policy%20for%20Automation%20Robotics%20Industries%20Japanese_619b411183526.pdf
- https://www.jetro.go.jp/biz/areareports/special/2024/0303/f5b4d6344434b2a9.html
- https://kuno-cpa.co.jp/thailand_blog/