Blog

2026.08.07

Cải tiến logistics nội bộ nhà máy theo 3 lớp, máy chỉ xóa 1 lãng phí

Cải tiến logistics nội bộ nhà máy theo 3 lớp, máy chỉ xóa 1 lãng phí

Những yêu cầu tư vấn về việc hoạt động vận chuyển trong nhà máy không chạy trơn tru hầu như luôn bắt đầu bằng tên của một thiết bị. Băng tải, AGV hay kho tự động. Nhưng thứ cần quyết định đầu tiên khi cải tiến logistics nội bộ nhà máy không phải là thiết bị. Lý do là tổng khối lượng công việc vận chuyển không do quãng đường quyết định, mà do số chuyến và đơn vị tải của mỗi chuyến. Bài viết này trình bày trình tự ba lớp, trong đó hai yếu tố đó được cố định trước rồi mới chọn máy.

Vì sao cải tiến logistics nội bộ nhà máy thất bại khi bắt đầu từ việc chọn thiết bị vận chuyển

Nhìn bằng cảm nhận, lượng hàng di chuyển bên trong nhà máy có vẻ do quãng đường quyết định. Từ kho đến chuyền lắp ráp là 80 mét, xa như vậy nên muốn có thứ gì đó chở hộ. Mạch suy nghĩ này rất tự nhiên, nhưng nó không khớp với lượng người và thời gian đang thực sự bị tiêu tốn. Tổng giờ công đang được đổ vào vận chuyển hình thành theo công thức sau.

Tổng giờ công vận chuyển = số chuyến × thời gian cần cho một chuyến

Trong thời gian cần cho một chuyến, phần tỷ lệ thuận với quãng đường chỉ là thời gian di chuyển cả đi lẫn về. Khi đo thực tế, quá nửa thời gian của một chuyến bị tiêu vào các thao tác ở hai đầu tuyến là xếp hàng, dỡ hàng, tìm hàng, chờ và ghi chép. Rút quãng đường xuống một nửa mà số chuyến tăng gấp đôi thì tổng giờ công không đổi. Ngược lại, dù quãng đường giữ nguyên, nếu giảm được số chuyến xuống một nửa thì tổng giờ công cũng giảm gần một nửa. Và thứ quyết định số chuyến chính là đơn vị tải của một chuyến. Số chuyến bằng tổng lượng hàng chia cho đơn vị tải của một chuyến. Nói cách khác, đối với tổng giờ công vận chuyển chỉ có hai biến số thiết kế được là số chuyến và đơn vị tải, chứ không phải quãng đường. Đó là ý nghĩa của công thức trên.

Điều gì xảy ra khi bắt đầu từ thiết bị

Các dự án bắt đầu từ khâu chọn thiết bị gần như đều đi theo cùng một lộ trình. Bên đặt hàng chuyển nguyên trạng số chuyến và đơn vị tải hiện tại sang cho nhà cung cấp làm điều kiện đầu vào, còn nhà cung cấp báo giá số lượng máy và năng lực đáp ứng đúng điều kiện đó. Nếu đưa nguyên điều kiện của một hiện trường mỗi ngày chạy vài chục chuyến nhỏ lẻ, thứ nhận lại là số lượng máy đủ để chạy thay con người đúng từng ấy chuyến. Số tiền đầu tư phình lên tỷ lệ thuận với số chuyến.

Điều tệ hơn là sau khi máy đã lắp thì việc thiết kế lại chuyến trở nên khó khăn. Khi tuyến đường đã vạch, vị trí sạc đã chốt, băng từ hoặc tấm phản quang đã dán xuống sàn, mỗi lần muốn gộp chuyến lại phát sinh thi công phía thiết bị. Đưa việc lẽ ra phải quyết ở lớp 1 xuống sau lớp 3 sẽ biến một thay đổi gần như không tốn tiền thành một thay đổi có chi phí thi công. Đó chính là nội dung thật sự của câu nói rằng bỏ qua trình tự thì số tiền đầu tư sẽ quá lớn.

Trong quãng đường, số chuyến và đơn vị tải thì biến số nào có tác dụng

Đặt ba biến số cạnh nhau thì quan hệ giữa dư địa cải tiến và chi phí hiện ra rõ ràng.

Biến sốCách thay đổiBậc chi phíTác dụng lên tổng giờ công
Quãng đườngThay đổi bố trí mặt bằng, di dời thiết bịLớn. Thường kèm theo dừng sản xuấtChỉ tác động vào phần thời gian di chuyển
Số chuyếnChuyển sang chuyến định kỳ, gộp chuyến, đổi cách gọi hàngGần như bằng không. Chỉ là thay đổi quy tắc vận hànhTác động gần như tỷ lệ thuận với tổng giờ công
Đơn vị tải của một chuyếnChuẩn hóa thùng chứa, cố định kiểu xếp hàng, thiết kế xe đẩy và xe lồngNhỏ. Chi phí thùng chứa và đồ gáTác động thông qua số chuyến

Bảng này cho thấy một sự đảo ngược. Hai biến số có chi phí nhỏ nhất lại chính là hai biến số tác động mạnh nhất lên tổng giờ công. Dù vậy, thảo luận tại hiện trường vẫn dồn vào quãng đường và thiết bị, vì chuyến và đơn vị tải là vùng không thuộc trách nhiệm của ai cả. Quãng đường thuộc bộ phận bố trí mặt bằng, thiết bị thuộc bộ phận thiết bị, ranh giới rất rõ. Trong khi đó số chuyến rơi vào khe hở giữa kế hoạch sản xuất và quyền tự quyết của hiện trường, và thường không có bất kỳ hồ sơ nào cho thấy nó từng được thiết kế một cách tường minh. Thứ chưa từng được thiết kế thì cũng không được nhận diện như một đối tượng để cải tiến.

Thiết bị chỉ làm cho sự kém hiệu quả chạy nhanh hơn

Hậu quả của việc bỏ qua trình tự là mua về một thiết bị chỉ giúp dòng vật tư kém hiệu quả chạy nhanh hơn. Tốc độ di chuyển tăng lên. Nhưng thiết kế về việc chở cái gì, chở lúc nào và chở bao nhiêu thì không đổi, nên chuyến quay về rỗng, thao tác sang tải và thời gian chờ vẫn còn nguyên. Chỉ có tỷ lệ hoạt động của thiết bị trông như tăng lên, còn tổng giờ công không giảm được như kỳ vọng.

Thứ phải chốt trước là số lần chở và lượng hàng của mỗi lần chở. Khi hai yếu tố này chưa cố định thì không thể viết được yêu cầu kỹ thuật cho thiết bị, vì năng lực vận chuyển ghi trong yêu cầu kỹ thuật là con số suy ra từ số chuyến và đơn vị tải. Nếu gốc suy ra chưa có mà vẫn viết ra đáp số, nhà cung cấp không còn cách nào khác ngoài việc đề xuất năng lực dư ra cho an toàn. Đầu tư quá mức, trong phần lớn trường hợp, không phải vì đề xuất của nhà cung cấp thừa thãi, mà là hệ quả của việc bên đặt hàng chưa cố định điều kiện.

Lãng phí trong vận chuyển có 4 loại và cơ giới hóa chỉ xóa được một loại

Lãng phí nằm trong hoạt động vận chuyển chia thành bốn loại lớn. Cách phân loại này có ý nghĩa thực tiễn ở chỗ mỗi loại được xóa ở một lớp khác nhau.

Cải tiến logistics nội bộ nhà máy theo 3 lớp, máy chỉ xóa 1 lãng phí - figure 2

Bốn loại đó như sau.

Loại lãng phíBiểu hiện tại hiện trườngNguyên nhân chínhLớp xóa được
Tìm hàngĐi khắp khuôn viên để tìm hàng thực tế. Nhãn hiển thị và hàng thực tế không khớp nhauVị trí để hàng chưa được cố định. Độ chi tiết của nhãn hiển thị quá thôLớp 2
ChờChờ công đoạn trước hoàn tất. Chờ xe nâng rảnh. Nhường đường tại điểm giao cắtChuyến chưa được thiết kế. Cách gọi hàng phụ thuộc từng cá nhânLớp 1 và lớp 2
Sang tảiChuyển hàng sang thùng chứa khác tại ranh giới công đoạn. Bốc từ pallet sang xe lồngThùng chứa khác nhau theo từng công đoạn. Đơn vị tải không đồng nhấtLớp 1
Quay về rỗngChiều đi có hàng, chiều về đi khôngHàng của chiều về chưa được đưa vào chuyếnLớp 1 và lớp 3

Điểm quan trọng nhất của cách phân loại này là về nguyên tắc, cơ giới hóa chỉ xóa được loại thứ tư là quay về rỗng. Trong lúc thiết bị vận chuyển đang chạy, con người có thể rời khỏi chỗ đó, nên dù chiều về có rỗng thì thời gian của con người cũng không mất đi. Cơ giới hóa là cách chuyển chi phí của quay về rỗng từ giờ công sang thời gian vận hành của thiết bị, chứ nó không tác động trực tiếp lên ba loại còn lại.

Tìm hàng, chờ và sang tải không mất đi nhờ cơ giới hóa

Lãng phí tìm hàng là vấn đề của thiết kế vị trí để hàng và nhãn hiển thị. Có đưa thiết bị vận chuyển vào mà vị trí để hàng chưa được xác định thì cũng không có chỗ để dỡ hàng xuống. Muốn cơ giới hóa thì trước hết phải có vị trí cố định, nên xét về trình tự, lớp 2 đứng trước. Lãng phí chờ cũng vậy. Việc chờ công đoạn trước hoàn tất không liên quan gì đến năng lực của phương tiện vận chuyển, mà thuộc về thiết kế tần suất chuyến và cách gọi hàng. Việc chờ xe nâng thoạt nhìn là vấn đề số lượng xe, nhưng thực tế thường là hệ quả của việc có quá nhiều đơn vị tải mà chỉ xe nâng mới di chuyển nổi.

Lãng phí sang tải bắt nguồn từ sự không thống nhất của thùng chứa và đơn vị tải. Khi công đoạn A dùng thùng nhựa, công đoạn B dùng pallet kim loại, còn khâu xuất hàng dùng thùng giấy, thì tại mỗi ranh giới chắc chắn phát sinh việc bốc dỡ sang thùng khác. Đưa thiết bị vận chuyển vào cũng không làm mất đi bản thân thao tác sang tải. Ngược lại, vì thiết bị vận chuyển được thiết kế trên tiền đề một đơn vị tải duy nhất, nên ở hiện trường chưa đồng nhất đơn vị tải sẽ phát sinh thêm thao tác sang tải thủ công ở trước và sau máy. Đây chính là kiểu điển hình của việc số người không giảm sau khi đưa thiết bị vào.

Quy trình nắm bắt hiện trạng bằng bốn loại lãng phí

Cách phân loại chỉ dùng được khi nó được chuyển thành cách đo hiện trạng. Quy trình được khuyến nghị là phân bổ thời gian một ngày của nhân viên vận chuyển theo bốn loại lãng phí. Không cần đo chính xác bằng đồng hồ bấm giây. Chỉ cần trong một tuần, cứ mỗi 30 phút để chính nhân viên tự ghi lại xem khoảng đó thuộc loại nào trong năm mục là tìm hàng, chờ, sang tải, quay về rỗng và thực sự chở hàng, thì đã nắm được bậc độ lớn. Khi có bản ghi này, tỷ lệ thời gian mà hàng thực sự di chuyển thường thấp hơn tưởng tượng, và phần thiếu hụt đó tập trung vào tìm hàng và chờ. Trong cuộc họp quyết định đầu tư, đưa ra một trang ghi chép của một tuần còn nhanh hơn là giải thích trình tự ba lớp.

Trình tự cải tiến gồm ba lớp (lớp 1 là chuyến và đơn vị tải, lớp 2 là vị trí để hàng và tuyến di chuyển, lớp 3 là cơ giới hóa)

Cải tiến logistics nội bộ nhà máy chia thành ba lớp có bậc chi phí khác nhau. Trình tự được cố định theo kiểu xếp chồng từ dưới lên, và nếu bỏ qua một lớp thì không thiết kế được lớp phía trên.

Cải tiến logistics nội bộ nhà máy theo 3 lớp, máy chỉ xóa 1 lãng phí - figure 1

Nội dung của ba lớp được sắp xếp như sau.

LớpNội dung cần quyết địnhBậc chi phíBộ phận chủ trì
Lớp 1 chuyến và đơn vị tảiChuyển sang chuyến định kỳ theo kiểu mizusumashi (vận chuyển nội bộ theo chuyến cố định) và milk run, tần suất chuyến, đơn vị tải của một chuyến, chuẩn hóa thùng chứa, cách gọi hàngGần như bằng không đến nhỏQuản lý sản xuất và hiện trường cùng quyết
Lớp 2 vị trí để hàng và tuyến di chuyểnCố định vị trí để hàng, thiết kế khu tiếp nhận tại công đoạn, giảm điểm sang tải, xóa bỏ các đơn vị tải mà chỉ xe nâng mới di chuyển đượcNhỏ đến trung bìnhKỹ thuật sản xuất
Lớp 3 cơ giới hóaPhân biệt cách dùng băng tải, AGV và AMR, kho tự động, phân loại tự độngTrung bình đến lớn. Bậc chi phí thay đổi hẳnBộ phận thiết bị và quyết định của ban lãnh đạo

Lý do trình tự bị cố định là vì đầu vào thiết kế của lớp trên chính là đầu ra của lớp dưới. Năng lực vận chuyển cần có ở lớp 3 được tính từ số chuyến và đơn vị tải đã chốt ở lớp 1. Vị trí và số lượng điểm dừng cần có ở lớp 3 được quyết định bởi vị trí để hàng đã chốt ở lớp 2. Nếu phía dưới chưa chốt thì phía trên không thể chốt. Nói ngược lại, nếu phía dưới đã chốt thì yêu cầu kỹ thuật của lớp trên có thể viết ra gần như một cách máy móc.

Ba lớp khác nhau không chỉ ở chi phí, mà còn ở thời gian tới lúc thấy hiệu quả và mức độ dễ quay đầu. Lớp 1 chỉ cần giấy và quy tắc nên bắt tay vào trong vài tuần, hiệu quả hiện ra thành con số sau 1 đến 2 tháng, và nếu sai thì chỉ cần trả quy tắc về như cũ. Lớp 2 kèm theo dịch chuyển vật lý tại hiện trường nên mất 1 đến 3 tháng mới khởi động được, và có thể quay lại bằng cách thiết lập lại vị trí để hàng. Lớp 3 mất từ nửa năm đến một năm tính cả việc chốt yêu cầu kỹ thuật và mua sắm, và khoản đầu tư thì không lấy lại được. Hãy thử trước ở lớp quay đầu được, và chốt xong điều kiện trước khi bước vào lớp không quay đầu được. Trình tự này đặc biệt hiệu quả ở các chi nhánh nước ngoài. Nếu chỉ dựa vào giả định của trụ sở chính tại Nhật để quyết định thực tế tác nghiệp của địa phương thì sẽ có sai lệch, nhưng nếu ở lớp 1 thì có thể sửa ngay tại thời điểm phát hiện sai lệch.

Triệu chứng chung của các dự án bỏ qua trình tự

Nhìn lại các ví dụ tự động hóa logistics sau khi hoàn thành, những dự án bỏ qua trình tự đều có chung một vài triệu chứng. Số giờ công cắt giảm được nêu ra trước khi triển khai không khớp với kết quả thực tế sau khi triển khai. Truy nguyên nhân thì thấy trong phần giờ công dự kiến cắt giảm có lẫn cả tìm hàng, chờ và sang tải. Những thứ này không mất đi nhờ cơ giới hóa nên không xuất hiện trong kết quả. Triệu chứng thứ hai là sau khi triển khai lại phát sinh thêm thao tác mới cho con người. Sang tải để đồng nhất về đơn vị tải mà máy xử lý được, dán lại nhãn hiển thị sang dạng máy đọc được, chờ khôi phục khi máy dừng và chở tay trong lúc đó. Tất cả đều không nằm trong phép tính thử trước khi triển khai. Nếu xử lý xong lớp 1 và lớp 2 trước thì không thứ nào trong số này phát sinh, hoặc nếu có phát sinh thì cũng nhỏ.

Lớp 1 chốt trước chuyến định kỳ (mizusumashi) và đơn vị tải

Lớp 1 là lớp gần như không tốn chi phí nhưng lại có tác dụng lớn nhất lên tổng giờ công. Những việc cần quyết định có thể gom thành năm mục.

Điều cần quyết định 1 là chuyển sang chuyến định kỳ

Thứ phải chốt đầu tiên là đổi hoạt động vận chuyển từ kiểu được gọi thì đi sang kiểu chạy vòng theo giờ đã định. Đây là phương thức được gọi là mizusumashi. Nó là cách đưa tư duy milk run vốn dùng cho việc gom hàng theo tuyến bên ngoài nhà máy vào bên trong khuôn viên. Tuyến chạy vòng trong khuôn viên và giờ giấc được cố định, còn mỗi công đoạn chuẩn bị sẵn thứ cần gửi đi và thứ cần nhận về theo đúng chuyến đó.

Vấn đề của kiểu được gọi thì đi là thời gian chờ phát sinh ở cả hai phía. Bên gọi phải chờ nhân viên vận chuyển tới, còn nhân viên vận chuyển phải chờ tới lượt được gọi tiếp theo. Cả hai loại chờ đều không để lại dấu vết trong hồ sơ nên không được nhận diện như đối tượng cải tiến. Khi chuyển sang chuyến định kỳ, hai loại chờ này được thay bằng một con số duy nhất là khoảng cách giữa các chuyến. Đã thành con số thì thiết kế được. Một tác dụng phụ quan trọng nữa là hàng của chiều về có thể được đưa vào chuyến. Khi tuyến chạy vòng đã chốt, tại mỗi điểm dừng có thể xử lý đồng thời thứ dỡ xuống và thứ chất lên, nên loại lãng phí quay về rỗng giảm đi một cách có cấu trúc.

Điều cần quyết định 2 là tần suất chuyến

Khoảng cách giữa các chuyến được quyết định bởi tốc độ tiêu thụ của công đoạn và sức chứa của khu tiếp nhận phía công đoạn. Nếu khu tiếp nhận đặt được lượng tồn cho 2 giờ thì chuyến cách nhau 2 giờ là đủ, còn nếu chỉ đặt được lượng cho 30 phút thì cần chuyến cách nhau 30 phút. Nói ngược lại, muốn giảm số chuyến thì chỉ cần tăng sức chứa của khu tiếp nhận, và điều này dẫn sang câu chuyện của lớp 2. Điều cần lưu ý là đánh đổi sau đây. Khoảng cách càng ngắn thì công đoạn càng nhẹ gánh, nhưng tổng giờ công vận chuyển lại tăng. Nếu nghe theo nguyên văn yêu cầu của hiện trường thì số chuyến sẽ tăng vô hạn. Hãy lấy khoảng cách cần thiết tính ngược từ sức chứa của khu tiếp nhận làm chuẩn, và yêu cầu bên đề xuất diễn giải căn cứ của họ theo ngôn ngữ sức chứa khu tiếp nhận.

Điều cần quyết định 3 là đơn vị tải của một chuyến

Hãy cố định đơn vị của lượng hàng chở trong một chuyến. Nếu chỗ này còn mơ hồ thì lượng chất hàng thay đổi theo từng chuyến và không đọc được thời gian cần thiết. Thời gian không đọc được thì không đưa vào kế hoạch được, và rốt cuộc mọi thứ quay về kiểu vận hành phụ thuộc từng cá nhân. Chuẩn để lấy là giá trị nhỏ hơn giữa khối lượng mà con người xử lý được an toàn và lượng mà công đoạn nhận một lần rồi xử lý hết được. Đơn vị tải càng lớn thì số chuyến càng giảm, nhưng lớn quá thì phải dùng xe nâng, và ràng buộc của lớp 2 và lớp 3 tăng vọt. Quan hệ này chính là cốt lõi của phần bàn về giảm xe nâng ở phía sau.

Điều cần quyết định 4 là chuẩn hóa thùng chứa

Giảm số chủng loại thùng chứa là biện pháp hiệu quả nhất để xóa lãng phí sang tải. Những điểm sang tải sinh ra từ yêu cầu vật lý của công đoạn thì vẫn còn, nhưng chúng sẽ được thu hẹp riêng ở lớp 2. Chừng nào mỗi công đoạn còn dùng một loại thùng chứa khác nhau thì tại ranh giới chắc chắn phát sinh việc bốc dỡ sang thùng khác. Khi thống nhất được, không chỉ việc sang tải biến mất mà kiểu xếp hàng cũng cố định được, nhờ đó thời gian cần thiết trở nên đọc được và tiền đề cho việc cơ giới hóa trong tương lai cũng được chuẩn bị đồng thời. Không cần thống nhất trên toàn công ty. Trước hết hãy gom về một loại giữa các công đoạn chính có lượng hàng lớn, và giữ lại các ngoại lệ một cách tường minh. Hãy quản lý danh mục chủng loại thùng chứa trên một trang giấy để tránh tình trạng ngoại lệ tăng lên mà không ai nhận ra.

Điều cần quyết định 5 là cách gọi hàng

Dù đã chuyển sang chuyến định kỳ thì vẫn cần một cơ chế truyền đạt xem chất gì lên xe. Có ba cách chính.

Cách gọi hàngCơ chếĐiều kiện phù hợpĐiểm cần lưu ý
Định giờ định lượngMỗi chuyến chở đúng những mặt hàng đã định với đúng lượng đã địnhSản xuất đã san đều và biến động chủng loại nhỏKhi có biến động sẽ dẫn tới tồn dư hoặc thiếu hàng
KanbanThùng chứa rỗng hoặc thẻ trở thành chỉ thị bổ sung tiếp theoSố chủng loại ở mức trung bình và mức tiêu thụ đọc đượcDễ xảy ra mất thẻ và vận hành trở nên hình thức
Chỉ thị điện tửCảm biến tại khu tiếp nhận hoặc dữ liệu thực tế phát ra chỉ thị bổ sungSố chủng loại nhiều. Biến động lớnTốn công xây dựng và duy trì cơ chế

Chọn cách nào là do số chủng loại và độ lớn của biến động quyết định. Không nên nhảy thẳng lên chỉ thị điện tử. Xây dựng khuôn mẫu vận hành bằng kanban trước rồi mới điện tử hóa sẽ đi vào nề nếp tốt hơn, vì cơ chế nào không chạy được trên giấy thì điện tử hóa cũng không chạy được.

Vì sao lớp 1 phát huy tác dụng ở nhà máy tại nước ngoài

Lớp 1 có một cái lợi riêng đối với nhà máy tại nước ngoài, đó là giảm chi phí đào tạo. Nếu đứng trên tiền đề rằng nhân sự địa phương sẽ có biến động và luân chuyển, thì cách vận hành phụ thuộc từng cá nhân sẽ xuống cấp sau mỗi lần bàn giao. Hiện trường chạy được nhờ việc người đó biết chỗ nào có gì sẽ chứng kiến lãng phí tìm hàng tăng vọt ngay khi người đó rời đi.

Nếu tuyến và giờ của chuyến định kỳ, chủng loại thùng chứa và đơn vị tải đã được chốt, thì nội dung cần dạy cho người mới gói gọn trong một trang giấy. Dư địa phán đoán càng nhỏ thì khác biệt về ngôn ngữ và kinh nghiệm càng ít hiện ra trong kết quả. Phần mà ở nhà máy của trụ sở chính tại Nhật vốn được hấp thụ bằng phán đoán của người lành nghề, thì ở chi nhánh nước ngoài sẽ không vận hành được nếu chưa được thay thế bằng quy tắc tường minh. Đây là lý do riêng của chi nhánh nước ngoài khiến lớp 1 không thể để lại phía sau.

Lớp 2 vị trí để hàng và tuyến di chuyển, giảm xe nâng không phải chuyện số lượng xe

Khi lớp 1 đã chốt xong chuyến và đơn vị tải, thứ cần quyết định tiếp theo là vị trí để hàng và tuyến di chuyển trên thực địa. Chi phí gói gọn trong phạm vi nhãn hiển thị, vạch phân khu, kệ và cải tạo khu tiếp nhận.

Cố định vị trí để hàng và thiết kế khu tiếp nhận

Cố định vị trí để hàng sẽ xóa lãng phí tìm hàng. Thứ cần chốt không phải bản thân địa điểm, mà là sức chứa, tức chỗ đó đặt được cái gì và đặt được bao nhiêu. Nếu sức chứa chưa được chốt thì vào mùa cao điểm vị trí để hàng sẽ tràn, hàng bị đặt tạm ở chỗ khác, và ý nghĩa của vị trí cố định mất đi. Vị trí cố định chỉ vận hành được khi đi kèm với giới hạn trên của lượng hàng được phép đặt.

Thiết kế khu tiếp nhận gắn trực tiếp với tần suất chuyến của lớp 1. Nếu khu tiếp nhận có sức chứa cho 2 giờ thì chuyến cách nhau 2 giờ là đủ. Hãy so sánh chi phí mở rộng khu tiếp nhận với chi phí giờ công của việc tăng chuyến, rồi chọn bên rẻ hơn. Bản thân phép so sánh thì đơn giản, nhưng nếu chuyện khu tiếp nhận và chuyện chuyến thuộc về hai người phụ trách khác nhau thì sẽ không có chỗ để so sánh. Khi thiết kế lớp 2, nhất định phải mời người phụ trách lớp 1 ngồi cùng.

Đếm số điểm sang tải

Việc đầu tiên phải làm khi thiết kế tuyến di chuyển là đếm số lần hàng bị chuyển sang thùng chứa khác trên đoạn từ khi nhận nguyên vật liệu tới khi xuất thành phẩm. Không đếm số công đoạn, mà đếm số điểm mà thùng chứa hoặc đơn vị tải thay đổi. Con số này chính là khối lượng công việc thủ công. Điểm sang tải chia thành loại xóa được nhờ thống nhất thùng chứa và loại không xóa được vì đến từ yêu cầu vật lý của công đoạn, chẳng hạn đồ gá chuyên dụng của lò nung. Chỉ lấy loại xóa được làm đối tượng. Nếu định xóa hết thì sẽ vấp phải phản đối từ phía công đoạn, và ngay cả những điểm lẽ ra xóa được cũng không tiến triển.

Giảm xe nâng là chuyện đơn vị tải chứ không phải số lượng xe

Khi việc giảm xe nâng được đưa ra bàn trong đề tài nâng cao hiệu quả logistics nội bộ, thảo luận gần như luôn bắt đầu từ số lượng xe. Nhưng số lượng xe là kết quả chứ không phải nguyên nhân. Sở dĩ cần xe nâng là vì có những kiện hàng mà chỉ xe nâng mới di chuyển nổi. Chừng nào các lô lớn theo đơn vị pallet còn di chuyển giữa các công đoạn thì số lượng xe sẽ không giảm.

Vì vậy trình tự cần làm không phải là đặt mục tiêu giảm số lượng xe, mà là lập danh mục những kiện hàng chỉ xe nâng mới di chuyển được, rồi loại dần từ những kiện có thể thu nhỏ đơn vị tải. Vật liệu vốn được đưa tới công đoạn theo đơn vị pallet sẽ được chia nhỏ vào các thùng chứa mà xe đẩy xử lý được, rồi đưa lên chuyến định kỳ. Số lượng xe giảm đi như là kết quả tích lũy của việc này. Nếu làm ngược trình tự và giảm số lượng xe trước, thì các kiện hàng lô lớn còn lại sẽ tạo ra hàng đợi và chỉ khiến lãng phí chờ tăng lên.

Vị trí của xe nâng nhìn từ góc độ an toàn

Nỗ lực thu nhỏ đơn vị tải còn có một căn cứ khác ngoài năng suất. Các con số dưới đây là thống kê của Nhật Bản, do Hiệp hội Xe công nghiệp Nhật Bản tổng hợp từ thống kê tai nạn lao động của Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản, số liệu năm 2023. Xin nêu rõ đây không phải là số liệu của Thái Lan hay ASEAN.

Năm 2023, tai nạn gây thương vong bắt nguồn từ xe nâng là 1,989 vụ, trong đó tai nạn chết người là 22 vụ. Xét theo dạng tai nạn, trong nhóm thương vong thì kẹp và cuốn chiếm 35.4%, bị va đập chiếm 27.3%.

Khi chỉ tách riêng nhóm tai nạn chết người, cơ cấu theo dạng tai nạn thay đổi.

Dạng tai nạnTỷ lệ trong tai nạn thương vongTỷ lệ trong tai nạn chết người
Kẹp và cuốn35.4%Nguồn không nêu
Bị va đập27.3%Nguồn không nêu
Lật xe5.7%17.2%
Rơi và ngã từ trên cao11.9%18.0%

Lật xe chỉ chiếm 5.7% trong toàn bộ tai nạn thương vong nhưng tăng lên 17.2% trong nhóm tai nạn chết người. Rơi và ngã từ trên cao cũng tăng từ 11.9% lên 18.0%. Dạng tai nạn có số vụ nhiều và dạng tai nạn dễ dẫn tới tử vong khi xảy ra không trùng nhau. Biện pháp cho tần suất và biện pháp cho mức độ nghiêm trọng phải được lập riêng.

Đào tạo và biển báo có thể kéo tần suất xuống, nhưng các dạng như lật xe và rơi ngã được cho là tỷ lệ thuận với tổng số cơ hội vận hành xe. Biện pháp duy nhất để giảm chính bản thân số cơ hội đó là giảm những đơn vị tải mà chỉ xe nâng mới di chuyển được. Chính ở lớp này, biện pháp an toàn và cải tiến logistics hội tụ vào cùng một hành động.

Xử lý các điểm giao cắt

Phần cuối của thiết kế tuyến di chuyển là các điểm giao cắt. Hãy rà soát các điểm mà lối đi của người cắt qua lối đi của xe nâng, và các điểm mà tuyến của chuyến định kỳ cắt qua đường di chuyển trong nội bộ công đoạn, rồi giảm số lượng các điểm đó. Với những điểm giao cắt không giảm được thì phải chốt quan hệ ưu tiên. Tại điểm giao cắt chưa chốt bên nào phải dừng, cả hai bên đều giảm tốc và nhường nhau mỗi lần, và dù mỗi lần chỉ vài giây thì nhân với số chuyến sẽ thành khoảng thời gian không thể bỏ qua. Nguyên tắc là ưu tiên người đi bộ, và bên phải dừng là phương tiện. Trên nền nguyên tắc đó, vì việc vừa mang hàng vừa dừng rồi lại đi lặp đi lặp lại là nguyên nhân gây đổ hàng và va chạm, nên với những điểm giao cắt mà tuyến di chuyển của hàng đi qua thường xuyên, hãy nêu rõ quan hệ ưu tiên bằng vạch dừng trên sàn và biển hiển thị, đồng thời hướng bố trí về phía không để chúng cắt qua tuyến di chuyển của người ngay từ đầu. Chừng nào việc phán đoán vẫn được phó mặc cho sự nhường nhau tại chỗ trong từng lần, thì cả thời gian chờ lẫn rủi ro va chạm đều không giảm.

Lớp 3 phân biệt cách dùng thiết bị xếp dỡ vật tư (băng tải, AGV và AMR, kho tự động, phân loại tự động)

Chỉ sau khi lớp 1 và lớp 2 đã xong thì mới thiết kế được phần cơ giới hóa. Có ba trục dùng để phán định khi chọn thiết bị xếp dỡ vật tư.

Cải tiến logistics nội bộ nhà máy theo 3 lớp, máy chỉ xóa 1 lãng phí - figure 3

Ba trục phán định là mức độ cố định của tuyến đường, tần suất chuyến và khối lượng của đơn vị tải. Quãng đường và sản lượng vận chuyển hằng năm là đầu vào dùng cho phép tính năng lực sau khi ba trục này đã chốt, chứ không dùng để chọn phương thức. Cách quyết định kiểu “quãng đường dài nên chọn băng tải” không đứng vững. Lý do là với cùng một quãng đường, đáp án vẫn thay đổi tùy theo tuyến đường có cố định được hay không.

Phương thứcMức độ cố định tuyến đường phù hợpTần suất chuyến phù hợpKhối lượng đơn vị tải phù hợpĐiểm yếu chính
Băng tảiCao. Tuyến đường không thay đổiCao. Liên tục hoặc tần suất lớnNhẹ đến trung bìnhĐổi tuyến phải thi công. Chiếm dụng mặt sàn
AGVTrung bình đến cao. Có thể trải đường dẫnTrung bìnhTrung bình đến nặngĐổi tuyến phải sửa thiết bị dẫn đường
AMRThấp đến trung bình. Tuyến đường có thể thay đổiThấp đến trung bìnhNhẹ đến trung bìnhSố lượng xe tăng thì khó điều khiển ùn tắc
Kho tự độngĐiểm lưu trữ cố địnhPhụ thuộc tần suất nhập xuất khoTrung bình đến nặngBậc chi phí nhà xưởng và đầu tư lớn. Khó di dời
Phân loại tự độngĐiểm đến của việc phân loại cố địnhCao. Có đỉnh tập trungNhẹ đến trung bìnhYếu trước sự phân tán về hình dạng mặt hàng

Điều quan trọng trong bảng là cột điểm yếu. Việc chọn phương thức không được quyết bởi phép so sánh những gì làm được, mà bởi phép so sánh xem điểm yếu có chịu nổi mức biến động của chính doanh nghiệp hay không. Nếu chọn tuyến cố định của băng tải cho một nhà máy có cơ cấu chủng loại thay đổi vài lần mỗi năm thì mỗi lần thay đổi lại phát sinh chi phí thi công. Ngược lại, với một công đoạn mà tuyến đường không đổi trong 10 năm thì tính cố định đó không phải điểm yếu mà là ưu điểm.

Đánh giá mức độ cố định của tuyến đường như thế nào

Mức độ cố định của tuyến đường phải được phán định bằng dữ liệu quá khứ chứ không bằng cảm nhận. Con số dùng đến là số lần bố trí mặt bằng hoặc thứ tự công đoạn của đoạn đó đã thay đổi trong 3 năm gần nhất. Nếu là 0 lần thì mức độ cố định cao. Nếu mỗi năm thay đổi từ 1 lần trở lên thì tránh các phương thức lấy tuyến cố định làm tiền đề. Cũng phải nhìn cả kế hoạch tương lai. Nếu trong kế hoạch có mở rộng, di dời hoặc chuyển đổi chủng loại thì mức độ cố định giảm. Điều cần lưu ý là không để bộ phận thiết bị tự mình phán đoán có kế hoạch hay không. Nếu không xác nhận diễn biến chủng loại mà phía kế hoạch sản xuất đang dự kiến, thì chỉ với góc nhìn của phía thiết bị sẽ đánh giá mức độ cố định cao hơn thực tế.

Tần suất chuyến và khối lượng của đơn vị tải

Tần suất chuyến lấy nguyên con số đã chốt ở lớp 1. Tần suất càng cao thì tỷ lệ hoạt động của thiết bị cố định càng cao và điều kiện thu hồi vốn càng tốt. Đưa thiết bị cố định vào một đoạn có tần suất thấp thì phần lớn thời gian thiết bị sẽ nằm im. Khối lượng của đơn vị tải cũng ra từ đơn vị tải của lớp 1. Khối lượng càng lớn thì số phương thức chọn được càng ít và số tiền đầu tư càng cao. Đến đây có thể xuất hiện phán đoán quay lại lớp 1. Nếu kết luận là thu nhỏ đơn vị tải thì dùng được phương thức rẻ hơn, hãy làm lại lớp 1. Ba lớp không phải là đường một chiều, nhưng việc thiết kế lại luôn bắt đầu từ lớp dưới.

Tách riêng phần lưu kho và phần vận chuyển

Khi xem xét lớp 3, không nên trộn lẫn lưu kho và vận chuyển. Kho tự động là tự động hóa điểm lưu trữ, còn AGV và AMR là tự động hóa việc vận chuyển giữa các công đoạn. Bài toán cần giải khác nhau nên đem so sánh trên cùng một sân sẽ khiến thảo luận lệch pha. Về quyết định đầu tư phía lưu kho, chúng tôi đã sắp xếp riêng trong bài viết về chi phí đầu tư và điều kiện thu hồi vốn của kho tự động.

Ở phía vận chuyển, phép tính số lượng xe quyết định trực tiếp số tiền đầu tư. Số lượng xe cần thiết được tính từ tần suất chuyến, thời gian cần cho một chuyến, thời gian sạc và thời gian chờ, nhưng tiền đề của phép tính này chính là các con số của lớp 1. Cách tư duy về phép tính số lượng xe và ảnh hưởng của điều kiện bố trí mặt bằng được tổng hợp trong bài viết về bố trí và tính số lượng AGV, còn việc AGV, AMR hay sức người có lợi hơn trong điều kiện nào thì nằm ở bài so sánh các phương thức vận chuyển.

Những hạng mục bên đặt hàng phải chốt trước khi đặt thiết kế băng tải

Hệ thống băng tải vận chuyển một khi đã lắp đặt thì mọi thay đổi tuyến đường đều kèm theo thi công. Chính vì vậy, số hạng mục mà bên đặt hàng phải chốt trước khi đặt hàng nhiều hơn so với các phương thức khác. Dưới đây là những hạng mục hay trở thành vấn đề về sau trong các dự án giao khoán trọn gói cho nhà cung cấp.

Hạng mục cần chốtĐiều xảy ra nếu chưa chốt
Đơn vị tải cần vận chuyển cùng kích thước và khối lượng tối đaBề rộng và năng lực dẫn động bị thừa hoặc thiếu. Chủng loại tương lai không đặt lên được
Số lượng vận chuyển mỗi giờ vào lúc cao điểmThiết kế theo giá trị trung bình rồi tắc nghẽn vào lúc cao điểm
Cách vận hành khi dừng máyKhông có phương tiện chở tay trong lúc dừng và cả chuyền phải ngừng
Các điểm rẽ nhánh và hợp lưuPhát sinh thi công bổ sung nhánh rẽ về sau
Chiều cao và điểm băng qua của ngườiLối đi bị chia cắt và tuyến di chuyển của người dài ra
Lối tiếp cận để vệ sinh và bảo trìPhạm vi phải dừng chuyền khi bảo trì mở rộng ra
Điểm kết nối của phần điều khiểnViệc liên kết dữ liệu thực tế với hệ thống quản lý sản xuất bị làm bổ sung chắp vá về sau

Trong số đó, ba hạng mục đầu là những thứ chỉ bên đặt hàng mới chốt được. Đơn vị tải cần vận chuyển ra từ đơn vị tải của lớp 1, còn số lượng vận chuyển lúc cao điểm ra từ tần suất chuyến. Cách vận hành khi dừng máy là quyết định của ban lãnh đạo về việc duy trì sản xuất ra sao khi đoạn đó ngừng, và đây không phải việc nhà cung cấp quyết được.

Cách xác định giá trị đỉnh và điểm băng qua

Sai lầm hay gặp với giá trị thiết kế của số lượng vận chuyển là thiết kế theo giá trị trung bình rồi tắc nghẽn vào lúc cao điểm. Giá trị trung bình dễ tính vì chỉ cần lấy sản lượng hằng tháng chia cho thời gian vận hành, nhưng thực tế việc vận chuyển dồn thành đỉnh ngay sau giờ vào ca, sau giờ nghỉ và ngay sau khi chuyển đổi sản xuất. Cách lấy được khuyến nghị là rút các đỉnh theo ngày từ số liệu sản xuất thực tế của 1 năm gần nhất, rồi lấy nhóm 5% ngày cao nhất làm giá trị thiết kế. Nếu lấy chính giá trị lớn nhất làm giá trị thiết kế thì thiết bị sẽ dư thừa. Nếu không chốt trước ranh giới rằng lấy nhóm 5% cao nhất còn những ngày vượt quá thì hấp thụ bằng cách vận hành, thì thảo luận về năng lực sẽ không hội tụ.

Cuối cùng là chiều cao và điểm băng qua. Băng tải chiếm dụng mặt sàn và không gian nên chia cắt tuyến di chuyển của người, và tuyến bị chia cắt thì quãng đường đi bộ dài ra. Điểm băng qua nên đặt ở nơi có tần suất người qua lại cao, và tần suất đó được xác định bằng cách quan sát cách đi lại hiện tại. Đây là chỗ mà thiết kế tuyến di chuyển của lớp 2 phát huy tác dụng. Nếu chốt tuyến đường khi tuyến di chuyển chưa được sắp xếp, thì về sau khi sửa lại tuyến di chuyển, các điểm băng qua sẽ không còn khớp.

Phân loại tự động bắt đầu phát huy tác dụng từ điều kiện nào

Phân loại tự động là lĩnh vực mà điều kiện áp dụng bị giới hạn nhiều hơn so với các thiết bị xếp dỡ vật tư khác. Điều kiện để nó bắt đầu phát huy tác dụng cần được nắm bằng cấu trúc chứ không bằng sản lượng.

Bốn điều kiện để phân loại tự động phát huy tác dụng

Thứ nhất, số điểm đến của việc phân loại phải cố định. Với cách vận hành mà số điểm đến tăng giảm thường xuyên thì việc đổi cài đặt phía thiết bị sẽ diễn ra liên tục. Thứ hai, lượng hàng phải có đỉnh theo thời gian. Nếu lượng hàng đã được san đều thì chỉ cần bố trí nhân lực đều đặn là đủ. Chính vì có đỉnh nên mới phát sinh lãng phí của việc bố trí nhân lực theo đỉnh, và mới có giá trị để thiết bị hấp thụ phần đó.

Thứ ba, độ phân tán về hình dạng và khối lượng của mặt hàng phải nhỏ. Máy phân loại có mặt vận chuyển và cơ cấu đẩy được thiết kế dựa trên tiền đề về hình dạng, nên phân tán lớn thì kẹt hàng và rơi hàng tăng lên. Trường hợp này thì trước hết hãy quay lại chuẩn hóa thùng chứa, tức là quay về lớp 1. Thứ tư, chi phí phát sinh khi phân loại sai phải cao. Ở những công đoạn mà một linh kiện đi nhầm sang công đoạn khác rồi bị lắp vào sản phẩm thì tổn thất mỗi vụ rất lớn, và tương ứng với đó, việc thiết bị kéo tỷ lệ sai xuống mới ghi nhận được thành hiệu quả.

Ngưỡng sản lượng phải dựng từ số liệu của chính công ty

Câu hỏi “từ bao nhiêu dòng thì phân loại tự động mới đứng vững?” không có đáp án chung cho toàn ngành. Một dòng ở đây là một chỉ thị phân loại gồm một mặt hàng trên một dòng chi tiết. Lý do là số điểm đến của việc phân loại, thời gian xử lý mỗi dòng, đơn giá giờ công và chi phí của việc phân loại sai đều tác động vào. Cách dựng đi theo trình tự sau. Trước hết, tổng hợp số giờ công đang đổ vào việc phân loại hiện tại, tách riêng ngày cao điểm và các ngày còn lại. Tiếp theo, xác nhận bằng bốn loại lãng phí xem phạm vi nào thiết bị thay thế được. Bản thân thao tác phân loại thì thay thế được, nhưng nếu việc sang tải trước sau và việc kiểm tra nhãn hiển thị vẫn còn thì phần đó phải trừ khỏi giờ công cắt giảm. Cuối cùng, nhân số giờ công cắt giảm còn lại với đơn giá giờ công để ra hiệu quả hằng năm. Chỉ khi có con số này thì giới hạn trên của số tiền đầu tư mới được xác định. Đây cũng chính là trình tự của cách tư duy trong chương sau.

Các phương án trung gian giữa sức người và thiết bị

Phân loại cũng là lĩnh vực có nhiều lựa chọn nằm giữa tự động hoàn toàn và thủ công hoàn toàn. Chỉ cần kết hợp chỉ thị bằng màn hình số, đối chiếu bằng khối lượng và đối chiếu bằng mã vạch vào thao tác của con người thì tỷ lệ sai đã giảm mạnh, trong khi bậc chi phí đầu tư không thể so với máy phân loại tự động. Vì vậy trình tự xem xét là trước hết kéo tỷ lệ sai xuống bằng cơ chế hiển thị và đối chiếu, sau đó nếu vẫn thiếu giờ công thì mới tính đến tự động hóa. Nếu nguyên nhân của lỗi nằm ở nhãn hiển thị phía thượng nguồn thì có đưa thiết bị vào, lỗi vẫn còn. Ở đây một lần nữa, lớp 1 và lớp 2 đi trước.

Cách tư duy về chi phí và thu hồi vốn khi nâng cao hiệu quả logistics nội bộ

Chỗ hay xảy ra sự cố nhất trong quyết định đầu tư là cách ghi nhận hiệu quả. Hãy cố định chỗ này trước.

Cố định một đường cơ sở duy nhất

Cải tiến vận chuyển đem lại nhiều loại hiệu quả. Giảm giờ công, giảm chi phí vận chuyển thuê ngoài, giảm làm việc ngày nghỉ, giảm tổn thất do phân loại sai, giảm rủi ro tai nạn. Nếu cộng gộp tất cả rồi tính số năm thu hồi vốn thì sẽ ra số năm ngắn hơn thực tế. Lý do rất đơn giản, vì cùng một phần cắt giảm đang bị đếm hai lần.

Chẳng hạn nếu việc làm ngày nghỉ giảm đi là kết quả của việc giờ công vận chuyển giảm, thì số tiền giảm giờ công và số tiền giảm làm ngày nghỉ chỉ là hai cách diễn đạt khác nhau của cùng một hiện tượng. Cộng cả hai thì hiệu quả thành gấp đôi, nhưng khoản chi thực tế giảm đi chỉ có một lần.

Lời giải trong thực tế là cố định một đường cơ sở duy nhất để ghi nhận hiệu quả, còn những thứ khác chỉ mô tả định tính như hiệu quả phụ. Trong phép tính thử dưới đây, đường cơ sở được cố định chỉ ở phần cắt giảm giờ công vận chuyển. Chi phí thuê ngoài, làm ngày nghỉ và rủi ro tai nạn không được quy thành tiền.

Giả định của phép tính thử

Dưới đây là ví dụ nhằm trình bày cách tư duy, và toàn bộ số tiền đều là giá trị giả định. Chúng được đưa ra trên tiền đề rằng người đọc sẽ thay bằng số liệu thực tế của chính công ty mình.

Hạng mục giả địnhGiá trịCăn cứ
Nhân sự chuyên trách vận chuyển nội bộ4 ngườiBố trí hiện tại
Thời gian làm việc một ngày8 giờCa làm việc thông thường
Số ngày làm việc mỗi tháng25 ngàyLịch vận hành
Đơn giá giờ công50 bahtLấy mức trần 400 baht trong khoảng lương tối thiểu theo tỉnh của Thái Lan là 337 đến 400 baht mỗi ngày, chia cho 8 giờ, được 400 ÷ 8 = 50 baht và dùng làm giá trị ước tính. Nếu tính cả các khoản đóng góp theo luật định thì con số này cao hơn

Từ giả định này, tính ra số giờ công vận chuyển và chi phí nhân công hằng năm. 4 người × 8 giờ = 32 giờ công mỗi ngày. 32 giờ công × 25 ngày = 800 giờ công mỗi tháng. 800 giờ công × 12 tháng = 9,600 giờ công mỗi năm. 9,600 giờ công × 50 baht = 480,000 baht mỗi năm. Đây là chi phí nhân công cho việc vận chuyển trước khi cải tiến.

Hiệu quả của từng lớp và mức đầu tư cho phép

Tỷ lệ cắt giảm của từng lớp cũng là giá trị giả định. Trên thực tế chúng được quyết định từ bản ghi nắm bắt hiện trạng.

LớpTỷ lệ cắt giảm lũy kếGiờ công cắt giảm thêm của lớp đó mỗi nămHiệu quả tăng thêm của lớp đó tính bằng baht mỗi năm
Chỉ lớp 112%1,15257,600
Lớp 1 cộng lớp 220%76838,400
Lớp 1 cộng lớp 2 cộng lớp 345%2,400120,000

Hãy kiểm tra lại phép tính. Nếu chỉ lớp 1 đạt 12% thì 9,600 × 0.12 = 1,152 giờ công, quy ra tiền là 1,152 × 50 = 57,600 baht. Nếu tới lớp 2 đạt lũy kế 20% thì 9,600 × 0.20 = 1,920 giờ công, phần tăng thêm của lớp 2 là 1,920 – 1,152 = 768 giờ công, quy ra tiền là 768 × 50 = 38,400 baht. Nếu tới lớp 3 đạt lũy kế 45% thì 9,600 × 0.45 = 4,320 giờ công, phần tăng thêm của lớp 3 là 4,320 – 1,920 = 2,400 giờ công, quy ra tiền là 2,400 × 50 = 120,000 baht.

Từ đây tính ra mức đầu tư cho phép của lớp 3. Tử số là số tiền đầu tư cho lớp 3, còn mẫu số chỉ là hiệu quả tăng thêm của lớp 3 tức 120,000 baht mỗi năm. Không được cộng hiệu quả 96,000 baht mỗi năm của lớp 1 và lớp 2 vào mẫu số. Nếu cộng vào thì phần hiệu quả vốn đã đạt được mà không cần mua máy sẽ bị tính thành hiệu quả của máy.

Số năm thu hồi vốn mục tiêuMức đầu tư cho phép của lớp 3 tính bằng baht
2 năm240,000
3 năm360,000
5 năm600,000

Hãy kiểm tra lại. 120,000 × 2 = 240,000. 120,000 × 3 = 360,000. 120,000 × 5 = 600,000. Tất cả đều khớp.

Thống nhất định nghĩa của số tiền đầu tư với công thức

Cần nêu rõ định nghĩa của số tiền đầu tư đem so với mức đầu tư cho phép. Phần được tính vào gồm bản thân thiết bị, thi công lắp đặt, kéo nguồn điện và đường truyền, đấu nối phần điều khiển, chi phí bảo trì của năm đầu tiên và chi phí đào tạo trong giai đoạn khởi động. Nếu chỉ đặt báo giá của riêng bản thân thiết bị vào tử số thì chênh lệch so với khoản chi thực tế sẽ tác động thẳng vào số năm thu hồi vốn.

Chi phí bảo trì phát sinh hằng năm có thể đưa vào tử số hoặc trừ khỏi mẫu số, cách nào cũng được, nhưng không được trộn lẫn. Ở đây chúng tôi khuyến nghị cách tính phần của năm đầu tiên vào tử số, còn chi phí bảo trì từ năm thứ hai trở đi thì trừ khỏi hiệu quả ở mẫu số. Giả sử bảo trì hằng năm từ năm thứ hai trở đi là 20,000 baht, thì mẫu số của năm thứ nhất là 120,000 baht (bảo trì năm đầu đã nằm ở tử số), còn mẫu số của năm thứ hai và năm thứ ba là 120,000 – 20,000 = 100,000 baht. Mức đầu tư cho phép với 3 năm thu hồi vốn là 120,000 + 100,000 + 100,000 = 320,000 baht, thấp hơn 40,000 baht so với mức 360,000 baht khi bỏ qua bảo trì. Ngoài ra, nếu chọn cách dồn toàn bộ bảo trì vào tử số thì 360,000 – 20,000 × 3 = 300,000 baht, cộng trả lại 20,000 baht bảo trì của năm đầu sẽ về cùng một mức. Kết luận không đổi với cả hai cách xử lý, nên điểm mấu chốt duy nhất là không trộn lẫn chúng.

Độ nhạy theo đơn giá giờ công

Đơn giá giờ công tác động thẳng vào số năm thu hồi vốn nên cần xem trước độ nhạy. Nếu đơn giá thành 60 baht thì hiệu quả tăng thêm của lớp 3 là 2,400 × 60 = 144,000 baht mỗi năm, và mức đầu tư cho phép với 3 năm thu hồi vốn là 144,000 × 3 = 432,000 baht. Nếu đơn giá là 40 baht thì 2,400 × 40 = 96,000 baht mỗi năm, và 3 năm là 288,000 baht.

Lương tối thiểu theo tỉnh của Thái Lan tại thời điểm năm 2026 nằm trong khoảng 337 đến 400 baht mỗi ngày và không đồng nhất trên toàn quốc. Điều đó có nghĩa là với cùng một thiết bị, số năm thu hồi vốn đứng vững được sẽ thay đổi tùy theo tỉnh đặt nhà máy. Về cách đưa diễn biến chi phí nhân công vào tính toán, bài viết về tư duy đầu tư tự động hóa trên tiền đề chi phí nhân công tại Thái Lan tăng trình bày mô hình thu hồi vốn có tính tới tốc độ tăng của đơn giá.

Tránh khẳng định về quy mô số tiền

Chúng tôi không nêu ra ở đây mức giá thực tế của băng tải hay AGV, vì bậc chi phí thay đổi theo yêu cầu kỹ thuật, số lượng, điều kiện lắp đặt và phạm vi đấu nối phần điều khiển. Việc bên đặt hàng cần làm không phải là đi dò giá, mà là chốt trước mức đầu tư cho phép theo trình tự ở trên. Khi nhận được báo giá vượt mức cho phép thì chỉ còn hai lựa chọn là đổi phương thức, hoặc quay lại lớp 1 và lớp 2 để nâng thêm tỷ lệ cắt giảm.

Trình tự phát huy tác dụng sớm tại Thái Lan và các nhà máy ở nước ngoài (tỷ lệ huy động công suất 57.47% nói lên điều gì)

Ngành chế tạo tại Thái Lan có những điều kiện vĩ mô chi phối trình tự đầu tư.

Thiết bị đang dư còn người thì thiếu

Tỷ lệ huy động công suất bình quân của ngành chế tạo Thái Lan tại thời điểm quý 2 năm 2026 là 57.47%. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 6 năm 2026 giảm 3.1% so với cùng kỳ năm trước. Hai con số này cho thấy một trạng thái là năng lực thiết bị đang còn dư. Trong giai đoạn năng lực còn dư, khoản đầu tư nhằm tăng năng lực rất khó thu hồi, vì phần năng lực tăng thêm sẽ không chạy. Mặt khác, tình trạng căng thẳng về nhân lực vẫn tiếp diễn, và trong lĩnh vực kho vận và logistics tại ASEAN, việc bảo đảm nguồn lao động liên tục được nêu ra như một vấn đề.

Vì vậy tính chất của khoản đầu tư phải là loại cắt giảm giờ công chứ không phải loại tăng năng lực. Logistics nội bộ nhà máy đúng là đối tượng đầu tư thuộc loại cắt giảm giờ công, và vì nó không đụng tới bản thân năng lực sản xuất nên vẫn cho hiệu quả ngay cả trong giai đoạn tỷ lệ huy động công suất thấp. Lớp 1 và lớp 2 lại có thể thực hiện mà không phải dừng thiết bị, nên càng hợp với giai đoạn này.

Chỉ dựa vào cắt giảm nhân công thì lớp 3 khó thu hồi vốn

Đồng thời cũng có một thực tế cần nhìn tỉnh táo. Đơn giá giờ công tại Thái Lan thấp hơn so với Nhật Bản. Đúng như phép tính thử ở chương trước, với giả định đơn giá giờ công 50 baht thì hiệu quả tăng thêm của lớp 3 nằm ở bậc 120,000 baht mỗi năm, và nếu lấy điều kiện 3 năm thu hồi vốn thì mức đầu tư cho phép chỉ dừng ở 360,000 baht. Vì vậy, nếu muốn khoản đầu tư lớp 3 đứng vững tại cơ sở ở Thái Lan thì phải chọn những đoạn mà không chỉ có cắt giảm nhân công, mà các yếu tố khác như an toàn, chất lượng và vận hành 24 giờ cùng phát huy tác dụng. Tuy nhiên ngay cả trong trường hợp đó, thứ được quy thành tiền vẫn chỉ là một yếu tố đã chọn làm đường cơ sở. Nếu quy an toàn và chất lượng thành tiền rồi cộng dồn vào thì lại quay về việc đếm hai lần đã nói ở chương trước.

Nói ngược lại, điều đó cũng có nghĩa là tại cơ sở ở Thái Lan, hiệu quả trên vốn đầu tư của lớp 1 và lớp 2 tương đối rất cao. Không có lý do gì để bỏ qua lớp mà chỉ với thùng chứa, nhãn hiển thị và sắp xếp vị trí để hàng đã nhìn thấy được mức cắt giảm 20% giờ công, để rồi tranh luận trước về khung 360,000 baht. Ngoài ra, phần chi phí đào tạo giảm nhờ chuẩn hóa không được tính vào phép tính thử này, vì nó không hiện ra ở các tài khoản kế toán sẵn có và căn cứ quy thành tiền còn yếu, nhưng trên thực tế có thể coi phần này là khoản cộng thêm. Về phán đoán ở thượng nguồn là chọn công đoạn nào làm đối tượng tự động hóa, chúng tôi đã trình bày trong bài viết về cách chọn công đoạn để tự động hóa.

Biện pháp hỗ trợ của BOI phù hợp với việc nâng cấp thiết bị hiện có

Ủy ban Đầu tư Thái Lan (BOI) có biện pháp mang tên Smart and Sustainable Industry nhằm hỗ trợ việc nâng cấp thiết bị hiện có. Trong quý 1 năm 2026 có 61 hồ sơ đăng ký với tổng giá trị 7,071 triệu baht. Cùng thời kỳ, lĩnh vực logistics và dịch vụ giá trị gia tăng cao có 68 hồ sơ với 14,548 triệu baht.

Biện pháp này lấy việc cải thiện thiết bị hiện có làm đối tượng chứ không phải việc tăng năng lực mới, nên phù hợp với tính chất của khoản đầu tư trong giai đoạn tỷ lệ huy động công suất thấp. Khi xem xét khoản đầu tư lớp 3, việc xác nhận sớm điều kiện đăng ký và phạm vi áp dụng là điều đáng làm. Tuy nhiên các điều kiện có thể được sửa đổi nên hãy kiểm tra nội dung công bố mới nhất. Vì biện pháp này dễ bị nhầm với các biện pháp khác có tên gần giống, chúng tôi khuyến nghị nêu chính xác tên biện pháp khi đi hỏi.

Danh mục kiểm tra cách triển khai cải tiến logistics (các hạng mục chốt trên giấy trước khi đặt hàng)

Toàn bộ nội dung tới đây được sắp xếp thành các hạng mục cần chốt trên giấy trước khi đặt hàng. Hãy kiểm tra xem danh mục đã được điền đủ hay chưa trước khi bước vào buổi làm việc với nhà cung cấp.

LớpHạng mục cần chốtTrạng thái coi là đã điền
Nắm bắt hiện trạngCơ cấu giờ công vận chuyển theo bốn loại lãng phíĐã có bản ghi của 1 tuần
Nắm bắt hiện trạngSố điểm sang tảiĐã đếm hết từ khâu nhận hàng tới khâu xuất hàng
Lớp 1Tuyến và giờ của chuyến định kỳCó sơ đồ và bảng giờ trên một trang
Lớp 1Quan hệ giữa tần suất chuyến và sức chứa khu tiếp nhậnĐã ghi khu tiếp nhận của mỗi công đoạn chứa được mấy giờ
Lớp 1Đơn vị tải của một chuyếnĐã chốt giới hạn trên về khối lượng và số lượng
Lớp 1Chủng loại thùng chứaCó danh mục và các ngoại lệ được nêu rõ
Lớp 1Cách gọi hàngĐã chọn một trong ba là định giờ định lượng, kanban hoặc chỉ thị điện tử
Lớp 2Vị trí để hàng cố định và giới hạn trên của sức chứaBản vẽ có ghi vị trí và số lượng giới hạn
Lớp 2Danh mục kiện hàng chỉ xe nâng mới di chuyển đượcĐã liệt kê mặt hàng và lý do
Lớp 2Vị trí điểm giao cắt và quan hệ ưu tiênĐã ghi trên bản vẽ và đã hiển thị tại hiện trường
Lớp 3Mức độ cố định của tuyến đườngSố lần thay đổi trong 3 năm gần nhất và kế hoạch sắp tới
Lớp 3Số lượng vận chuyển lúc cao điểmSố liệu thực tế của nhóm 5% ngày cao nhất
Lớp 3Cách vận hành khi dừng máyĐã chốt quy trình và lực lượng cho việc chở tay
Quyết định đầu tưLựa chọn đường cơ sởĐã cố định một căn cứ duy nhất để ghi nhận hiệu quả
Quyết định đầu tưMức đầu tư cho phépĐã tính bằng hiệu quả hằng năm × số năm thu hồi vốn mục tiêu
Quyết định đầu tưĐịnh nghĩa của số tiền đầu tưĐã ghi rõ phạm vi gồm thiết bị, lắp đặt, điều khiển và bảo trì năm đầu

Trong danh mục này không có hạng mục nào điền được bằng cách đi hỏi nhà cung cấp. Tất cả đều là những việc được quyết định trong nội bộ bên đặt hàng. Nếu đã điền đủ thì việc so sánh báo giá được đơn giản hóa thành so sánh năng lực và giá. Còn nếu lấy báo giá khi chưa điền, thì trục so sánh sẽ khác nhau theo từng nhà cung cấp, và đề xuất được chọn sẽ là đề xuất trình bày khéo nhất.

Trình tự triển khai

Về mặt thực tế, hãy bắt đầu từ 1 tuần nắm bắt hiện trạng, chạy lớp 1 trong 1 đến 2 tháng, đo hiệu quả rồi mới tiến sang lớp 2. Tại thời điểm hiệu quả của lớp 2 đã hiện ra, hãy xác nhận lại cơ cấu giờ công còn lại một lần nữa theo bốn loại lãng phí. Nếu ở thời điểm đó phần còn lại chủ yếu là quay về rỗng thì điều kiện để bước vào xem xét lớp 3 đã đủ. Nếu ba loại còn lại vẫn tồn tại thì quay về lớp 1 và lớp 2. Tiêu chí phán định tuy đơn giản nhưng hữu hiệu. Nếu không còn loại lãng phí nào mà cơ giới hóa xóa được, thì cơ giới hóa sẽ không có tác dụng.

Câu hỏi thường gặp (FAQ)

Dưới đây là năm câu hỏi thường gặp từ hiện trường.

Nên bắt đầu cải tiến logistics nội bộ nhà máy từ đâu?

Hãy bắt đầu từ việc nắm bắt hiện trạng. Ghi lại thời gian một tuần của nhân viên vận chuyển theo năm mục là tìm hàng, chờ, sang tải, quay về rỗng và thực sự chở hàng. Không cần đo đạc chính xác, chỉ cần tự khai theo từng khoảng 30 phút là đã nắm được bậc độ lớn. Nếu quyết định biện pháp khi chưa có bản ghi này thì sẽ tính cả những lãng phí mà cơ giới hóa không xóa được vào hiệu quả của cơ giới hóa. Khi đã có bản ghi, hãy chốt tuyến và giờ của chuyến định kỳ, đơn vị tải của một chuyến và chủng loại thùng chứa. Tới đây gần như không tốn chi phí, và hiệu quả hiện thành con số sau 1 đến 2 tháng. Việc xem xét thiết bị vận chuyển nằm sau bước này.

Nâng cao hiệu quả logistics nội bộ thì băng tải hay AGV phù hợp hơn?

Điều này không do quãng đường hay sản lượng vận chuyển quyết định. Ba thứ dùng để phán định là mức độ cố định của tuyến đường, tần suất chuyến và khối lượng của đơn vị tải. Với đoạn mà tuyến đường không thay đổi lần nào trong 3 năm gần nhất, không có kế hoạch thay đổi sắp tới và tần suất chuyến cao, thì hệ thống băng tải vận chuyển với tuyến cố định sẽ có lợi. Với đoạn mà tuyến đường thay đổi từ một lần mỗi năm trở lên, hoặc có kế hoạch mở rộng và chuyển đổi chủng loại, thì nên tránh những phương thức mà việc đổi tuyến kèm theo thi công. Nếu vẫn còn những kiện hàng chỉ xe nâng mới di chuyển được, thì trước khi chọn bên nào hãy xem xét trước khả năng chia nhỏ đơn vị tải. Đơn vị tải nhỏ đi thì lựa chọn tăng lên và bậc chi phí đầu tư cũng hạ xuống.

Giảm xe nâng có khả thi trên thực tế không?

Nếu đặt mục tiêu theo số lượng xe thì khó, còn đặt mục tiêu theo đơn vị tải thì tiến được. Sở dĩ cần xe nâng là vì có những kiện hàng chỉ xe nâng mới di chuyển nổi, còn số lượng xe chỉ là kết quả. Trình tự cần làm là tích lũy các bước thay thế, gồm lập danh mục loại kiện hàng đó, chia nhỏ vật liệu đang được đưa tới công đoạn theo đơn vị pallet vào các thùng chứa mà xe đẩy xử lý được, rồi đưa lên chuyến định kỳ. Cũng có căn cứ về mặt an toàn. Theo thống kê tai nạn lao động của Nhật Bản, năm 2023 tai nạn gây thương vong bắt nguồn từ xe nâng là 1,989 vụ và tai nạn chết người là 22 vụ, trong đó ở nhóm chết người thì lật xe chiếm 17.2% và rơi ngã từ trên cao chiếm 18.0%, cao hơn hẳn tỷ lệ 5.7% và 11.9% của toàn bộ tai nạn thương vong. Các dạng tai nạn này tỷ lệ thuận với tổng số cơ hội vận hành xe, và thứ duy nhất giảm được chính bản thân số cơ hội đó là việc giảm đơn vị tải.

Từ mức sản lượng nào thì nên xem xét phân loại tự động?

Điều này không do giá trị tuyệt đối của sản lượng quyết định. Có bốn điều kiện để nó bắt đầu phát huy tác dụng, gồm số điểm đến của việc phân loại đã cố định, lượng hàng có đỉnh theo thời gian, độ phân tán về hình dạng và khối lượng của mặt hàng nhỏ, và chi phí phát sinh khi phân loại sai cao. Sản lượng dù lớn nhưng đã được san đều thì chỉ cần bố trí nhân lực là đủ. Về trình tự phán đoán, trước hết hãy kéo tỷ lệ sai xuống bằng các phương án trung gian như màn hình số hoặc đối chiếu bằng khối lượng, sau đó nếu vẫn thiếu giờ công thì mới tính đến tự động hóa. Nếu độ phân tán về hình dạng lớn thì hãy quay lại việc chuẩn hóa thùng chứa trước khi tự động hóa.

Cải tiến logistics nội bộ nhà máy tốn khoảng bao nhiêu chi phí?

Bậc chi phí khác nhau theo từng lớp. Việc thiết kế chuyến và đơn vị tải ở lớp 1 gần như không tốn chi phí, chỉ phát sinh chi phí thùng chứa và nhãn hiển thị. Lớp 2 nằm trong phạm vi nhãn hiển thị, vạch phân khu, kệ và cải tạo khu tiếp nhận, nhỏ hơn hẳn so với đầu tư thiết bị sản xuất. Chỉ có lớp 3 tức phần cơ giới hóa mới làm bậc chi phí thay đổi. Vì vậy trình tự để trả lời câu hỏi về chi phí không phải là đi dò giá, mà là chốt trước mức đầu tư cho phép. Nhân số giờ công cắt giảm hằng năm với đơn giá giờ công để ra hiệu quả hằng năm, rồi nhân với số năm thu hồi vốn mục tiêu sẽ ra mức đầu tư cho phép. Khi đó hãy cố định một đường cơ sở duy nhất cho hiệu quả, và không ghi nhận đồng thời cả phần cắt giảm nhân công lẫn phần cắt giảm chi phí thuê ngoài.

Tổng kết

Bài viết này có hai luận điểm. Thứ nhất, trong cải tiến logistics nội bộ nhà máy, thứ quyết định tổng khối lượng vận chuyển không phải quãng đường mà là hai yếu tố số chuyến và đơn vị tải của mỗi chuyến. Thứ hai, trong bốn loại lãng phí của việc vận chuyển, cơ giới hóa chỉ xóa được một loại là quay về rỗng, còn tìm hàng, chờ và sang tải chỉ có thể xóa ở lớp 1 và lớp 2.

Vì vậy trình tự gồm ba lớp là chốt chuyến, đơn vị tải và thùng chứa ở lớp 1, sắp xếp vị trí để hàng và tuyến di chuyển ở lớp 2, rồi thiết kế cơ giới hóa ở lớp 3. Nếu bỏ qua trình tự này mà bắt đầu từ khâu chọn thiết bị thì sẽ mua về một thiết bị chỉ làm cho dòng vật tư kém hiệu quả chạy nhanh hơn, và cả số lượng máy lẫn số tiền đầu tư đều quá lớn. Ba trục phán định dùng để chọn phương thức ở lớp 3 là mức độ cố định của tuyến đường, tần suất chuyến và khối lượng của đơn vị tải, chứ riêng quãng đường hay sản lượng vận chuyển thì không quyết định được.

Việc giảm xe nâng cũng có cùng cấu trúc. Thứ phải giảm không phải số lượng xe, mà là những đơn vị tải chỉ xe nâng mới di chuyển được. Chừng nào các đơn vị tải đó còn thì số lượng xe không giảm, và đúng như thống kê tai nạn lao động của Nhật Bản cho thấy, các dạng tai nạn nghiêm trọng như lật xe và rơi ngã tỷ lệ thuận với tổng số cơ hội vận hành xe. Về chi phí và thu hồi vốn, hãy cố định một đường cơ sở duy nhất để ghi nhận hiệu quả, và thống nhất định nghĩa của số tiền đầu tư với công thức tính số năm thu hồi vốn. Không ghi nhận đồng thời cả phần cắt giảm nhân công lẫn phần cắt giảm chi phí thuê ngoài.

Ngành chế tạo Thái Lan đang ở giai đoạn thiết bị còn dư mà người thì thiếu, với tỷ lệ huy động công suất quý 2 năm 2026 là 57.47% và sản xuất công nghiệp tháng 6 năm 2026 giảm 3.1% so với cùng kỳ năm trước. Theo nghĩa khoản đầu tư cắt giảm giờ công đến trước khoản đầu tư tăng năng lực, logistics nội bộ nhà máy là đối tượng đầu tư có thứ tự sớm. Và trong môi trường đơn giá giờ công thấp, giá trị tương đối của lớp 1 vốn gần như không tốn tiền lại càng cao hơn.

Trong cải tiến logistics nội bộ nhà máy, phần được quyết định trước giai đoạn mua thiết bị mới là phần lớn hơn. Chúng tôi vẫn nhận trao đổi ngay cả khi bạn chưa có lấy một bảng giờ chạy chuyến định kỳ, hay mới chuẩn bị lập danh mục thùng chứa. Nếu bạn muốn đi cụ thể vào cách lấy bản ghi nắm bắt hiện trạng, cách tính mức đầu tư cho phép, hoặc việc xác nhận xem điều kiện để tiến sang lớp 3 đã đủ hay chưa, hãy liên hệ với chúng tôi qua trang liên hệ. Trao đổi từ giai đoạn trước khi lấy báo giá thiết bị cũng hoàn toàn được.

Nguồn tham khảo