“Chúng tôi muốn quản lý bán thành phẩm cho tử tế, nhưng nên bắt đầu từ đâu?” Đây là câu hỏi chúng tôi nhận được rất thường xuyên tại các nhà máy Nhật Bản ở Thái Lan. Câu trả lời lúc nào cũng giống nhau: trước hết hãy đếm xem giữa công đoạn này và công đoạn kia đang tồn đọng bao nhiêu sản phẩm. Bởi vì bán thành phẩm là loại tồn kho mà chi phí đã phát sinh rồi, nhưng vẫn chưa chuyển thành doanh thu. Bài viết này lấy một nhà máy gia công linh kiện ô tô ở tỉnh Chonburi làm ví dụ, theo dõi cách họ đếm 24,000 sản phẩm đang chất đống giữa 5 công đoạn và giảm được đến đâu.
Vì sao quản lý bán thành phẩm âm thầm bào mòn lợi nhuận nhà máy – tồn kho không nhìn thấy thì không giảm được
Khi đến thăm một nhà máy và hỏi “hiện tại có bao nhiêu bán thành phẩm?”, hầu như không ai trả lời được ngay. Câu trả lời thường là “nếu là con số kiểm kê cuối tháng thì chúng tôi đưa ra được”. Nghĩa là họ không biết hiện trường đang có bao nhiêu, mà chỉ biết cuối tháng trước đã có bao nhiêu.
Đây không phải chuyện ghi chép cẩu thả. Ngược lại là khác: việc kiểm kê cuối tháng được làm rất kỹ. Dừng chuyền, huy động toàn bộ nhân sự, đếm hiện vật, nhập vào Excel, đối chiếu với sổ sách. Đó là công việc kéo dài vài ngày. Chính vì làm kỹ nên mỗi tháng chỉ làm được một lần. Và vì mỗi tháng chỉ đếm một lần, nên không ai biết trong khoảng thời gian giữa hai lần đếm đã xảy ra chuyện gì.
Điều rắc rối của bán thành phẩm nằm ở chỗ nó tăng lên cũng chẳng làm ai khó chịu. Nếu thiếu nguyên vật liệu thì chuyền dừng, mọi người nhận ra ngay. Nếu thành phẩm ế thì bộ phận kinh doanh phải vào cuộc. Nhưng bán thành phẩm chỉ nằm giữa các công đoạn, không chặn công việc của ai cả. Thậm chí, với cảm nhận của hiện trường, việc có sẵn một đống vật tư để chuyển sang công đoạn sau lại gần với cảm giác an tâm.
Tuy nhiên, nhìn từ phía kế toán, bán thành phẩm là tài sản đã được đổ vào cả chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công lẫn chi phí gia công. Tiền mặt đã chuyển sang hình dạng đó và đang nằm trên sàn nhà máy. Cho đến khi bán được và thu tiền về, khoản tiền mặt đó không dùng được. Nhà máy nhiều bán thành phẩm không phải là nhà máy có tỷ suất lợi nhuận kém, mà là nhà máy phải ôm nhiều vốn hơn để tạo ra cùng một mức lợi nhuận.
Và tổn thất do bán thành phẩm nhiều gây ra không xuất hiện ở bất kỳ đâu trong báo cáo tài chính dưới tên khoản mục “lỗ do bán thành phẩm”. Cái xuất hiện là những triệu chứng riêng lẻ: dòng tiền căng thẳng, thiếu diện tích lưu trữ, lead time dài, chênh lệch kiểm kê lớn. Nguyên nhân chỉ có một nhưng triệu chứng thì tách ra nhiều nhánh, nên mỗi nhánh lại được xử lý bằng một biện pháp riêng, còn gốc rễ thì vẫn nguyên vẹn.
Điểm xuất phát của quản lý bán thành phẩm không phải là đi tìm phương pháp cắt giảm. Đó là biết được hiện tại có bao nhiêu sản phẩm, theo ngày chứ không phải theo tháng. Một sự thật đơn giản làm tiền đề cho tất cả: tồn kho không nhìn thấy thì không giảm được.
Bán thành phẩm là gì – chi phí đã phát sinh, doanh thu thì chưa
Hãy bắt đầu bằng việc thống nhất thuật ngữ. Bán thành phẩm là sản phẩm đang nằm giữa chừng quy trình sản xuất và chưa hoàn thiện. Nó đã vượt qua trạng thái nguyên vật liệu nên không còn là nguyên vật liệu, nhưng chưa qua kiểm tra nên cũng chưa phải là thành phẩm. Đó là một trạng thái trung gian khó đặt tên.
Bài giải thích của Daiko XTECH mô tả bán thành phẩm là “sản phẩm đang trong quá trình chế tạo, các chi phí như chi phí nguyên vật liệu và chi phí nhân công đã phát sinh, nhưng vì chưa hoàn thiện nên chưa bán được”. Định nghĩa này đã chứa đựng toàn bộ lý do vì sao quản lý bán thành phẩm lại khó. Chi phí đã phát sinh, nhưng chưa bán được. Nghĩa là chỉ có khoản chi được xác định trước, còn triển vọng thu hồi thì phụ thuộc vào tốc độ chảy của các công đoạn.
Trong tiếng Anh, nó được gọi là WIP (Work In Process, hoặc Work In Progress). Hướng dẫn về WIP của MachineMetrics cũng định nghĩa bán thành phẩm là vật phẩm chưa hoàn thiện nằm giữa chừng quy trình sản xuất, đồng thời coi nó là đối tượng cần quản lý cùng với các chỉ số như cycle time, lead time và throughput. Tại các cơ sở ở Thái Lan, từ WIP thường được dùng trực tiếp trong hội thoại với nhân viên bản địa, nên việc thống nhất ngay từ đầu rằng “bán thành phẩm” và “WIP” là cùng một thứ sẽ giúp câu chuyện đi nhanh hơn. Nếu quản lý người Nhật chỉ nói “shikakarihin” còn nhân viên bản địa chỉ nói “WIP”, thì dù cùng nhìn một con số, cuộc thảo luận vẫn lệch pha.
Một điểm nữa hay gây nhầm lẫn trong thực tế là sự khác biệt với bán thành phẩm có thể bán riêng lẻ. Loại này đã được gia công đến mức tự nó có thể bán ra, hoặc đã có đơn vị hạch toán tồn kho rõ ràng. Còn bán thành phẩm đang xét thì tự nó không bán được. Khác biệt này thể hiện cả trong hạch toán kế toán, nên hãy kiểm tra xem doanh nghiệp mình đang phân loại vào tài khoản nào. Nếu để phân loại mập mờ mà chỉ chạy theo số lượng, sổ kế toán và con số hiện trường sẽ không bao giờ khớp nhau.
Bán thành phẩm còn có một đặc tính: càng đi sâu vào công đoạn thì đơn giá càng cao. Một chi tiết mới cắt gọt xong và một chi tiết đã qua xử lý nhiệt rồi mài, dù hình dạng giống nhau, chi phí đã đổ vào là khác nhau. Cùng là một sản phẩm, nhưng càng nằm về cuối chuyền thì càng đắt. Sự thật hiển nhiên này sẽ phát huy tác dụng khi tính giá trị tồn kho bán thành phẩm ở phần sau. Nếu chỉ nhìn số lượng rồi nghĩ “hãy giảm chỗ nhiều nhất”, ta có thể sẽ động vào nơi mà xét về tiền thì hiệu quả lại nhỏ.
Ba lý do mang tính cấu trúc khiến quản lý bán thành phẩm trở nên khó – số lượng, giá thành, tồn đọng
Lý do khiến quản lý bán thành phẩm khó nằm ở nơi không liên quan gì đến năng lực hay ý chí của người phụ trách. Có ba lý do mang tính cấu trúc.
Thứ nhất, rất khó nắm được số lượng. Tồn kho nguyên vật liệu nằm trong kho, tồn kho thành phẩm cũng nằm trong kho. Kho có vị trí cố định và có ghi chép nhập xuất. Nhưng bán thành phẩm thì không nằm trong kho. Nó phân tán ở cạnh máy gia công, trên băng tải, trong xe đẩy, trong giá chờ kiểm tra, và trong các thùng tuần hoàn đặt ven lối đi giữa các công đoạn. Hơn nữa nó di chuyển liên tục. Ngay trong lúc đang đếm thì hàng vẫn chảy sang công đoạn kế tiếp, nên về nguyên lý, con người rất khó lấy được “con số chính xác tại một thời điểm”.
Thứ hai, việc tính giá thành trở nên phức tạp. Như đã nói, đơn giá bán thành phẩm thay đổi theo mức độ tiến triển của công đoạn. Có 5 công đoạn thì tồn tại ít nhất 5 mức đơn giá. Trong thực tế, người ta dùng khái niệm mức độ hoàn thành gia công để phân bổ, nhưng nếu không biết có bao nhiêu sản phẩm đã đi đến công đoạn nào thì không tạo được con số gốc để phân bổ. Nắm số lượng lỏng lẻo thì độ chính xác của giá thành cũng tự động giảm theo. Bài giải thích của Daiko XTECH cũng nêu ba vấn đề của quản lý bán thành phẩm là khó nắm số lượng, tính giá thành phức tạp và rủi ro tồn kho quá mức, trong đó hai vấn đề đầu nối tiếp nhau.
Thứ ba, tồn đọng rất khó phát hiện. Bán thành phẩm đặt giữa các công đoạn, nếu tổng lượng không đổi thì dù hàng bên trong không hề được luân chuyển, cũng chẳng ai nhận ra. Khi quản lý hằng ngày chỉ nhìn tổng lượng, việc nguyên tắc nhập trước xuất trước bị phá vỡ sẽ không hiện lên trong bất kỳ chỉ số nào. Chi tiết kim loại thì gỉ, nhựa thì biến chất, linh kiện điện tử thì không dùng được nữa vì thay đổi thiết kế. Tồn đọng là vấn đề của thời gian chứ không phải của số lượng, nên cách quản lý chỉ nhìn số lượng sẽ không bắt được nó.
Đặt ba lý do cạnh nhau, ta thấy một yếu tố chung: cả ba đều “không giải quyết được bằng nỗ lực tại chỗ”. Tăng số lần đếm, tính giá thành cẩn thận hơn, đi tuần hiện trường thường xuyên hơn. Cái nào cũng là cải tiến, nhưng chừng nào còn làm thủ công thì tần suất vẫn có giới hạn. Quản lý bán thành phẩm dễ trở thành câu chuyện hệ thống chính vì đây là lĩnh vực mà việc hô hào tinh thần không với tới.
Định luật Little | Lead time được quyết định bởi lượng tồn kho bán thành phẩm
Khi giải thích về quản lý bán thành phẩm, luôn có một nguyên lý được đưa ra trước tiên: định luật Little. Đây là quy tắc cơ bản được dùng trong lĩnh vực quản lý sản xuất và lý thuyết hàng đợi, viết dưới dạng công thức như sau.
Lead time = Lượng tồn kho bán thành phẩm ÷ Throughput (sản lượng đầu ra trên một đơn vị thời gian)
Công thức thì đơn giản, nhưng hàm ý rất mạnh. Nếu throughput không đổi, lead time tỷ lệ thuận trực tiếp với lượng tồn kho bán thành phẩm. Bán thành phẩm giảm một nửa thì lead time cũng giảm một nửa, bán thành phẩm tăng gấp đôi thì lead time cũng tăng gấp đôi. Chừng nào throughput chưa thay đổi, quan hệ tỷ lệ này không bị phá vỡ.
Định luật này phát huy tác dụng trong thực tế vì nó làm rõ chiều của quan hệ nhân quả. Ở nhiều nhà máy, lead time dài được giải thích bằng “vì nhiều công đoạn”, “vì máy chạy chậm”, “vì chuyển đổi setup mất thời gian”. Không cái nào sai cả, nhưng tất cả đều là câu chuyện phía throughput. Muốn nâng throughput thì phải đầu tư thiết bị. Trong khi đó, con đường thứ hai mà định luật Little chỉ ra là giảm lượng tồn kho bán thành phẩm. Con đường này có thể đi mà không cần mua thiết bị.
Hãy nhìn bằng con số cụ thể. Giả sử một chuyền sản xuất ra 2,000 sản phẩm mỗi ngày và đang có 24,000 bán thành phẩm. Lead time là 24,000 ÷ 2,000, tức 12.0 ngày. Nếu nhà máy này giảm bán thành phẩm xuống còn 15,000 mà không thay đổi bất kỳ thiết bị nào, lead time sẽ là 15,000 ÷ 2,000, tức 7.5 ngày. Rút ngắn được 4.5 ngày. Không mua thêm một cái máy nào. Chỉ thay đổi cân bằng giữa lượng đưa vào và lượng đầu ra.
Có một điều cần lưu ý ở đây. Định luật Little chỉ nói rằng giảm bán thành phẩm thì lead time ngắn lại, chứ không dạy cách giảm bán thành phẩm. Khi thực sự bắt tay vào giảm, ta phải siết thời điểm đưa hàng vào cho khớp với năng lực của từng công đoạn, và muốn vậy thì phải biết mỗi công đoạn hiện đang ôm bao nhiêu. Nghĩa là định luật chỉ dạy cách đặt mục tiêu, còn để thực thi thì cần trực quan hóa. Về thứ tự, trực quan hóa trước, cắt giảm sau.
Một hàm ý khác: giảm bán thành phẩm không chỉ rút ngắn lead time mà còn giúp phát hiện vấn đề chất lượng sớm hơn. Ở nhà máy có lead time 12.0 ngày, một lỗi phát sinh ở thượng nguồn phải mất trung bình 12.0 ngày mới bị phát hiện ở khâu kiểm tra cuối. Trong suốt thời gian đó, nhà máy tiếp tục làm ra những sản phẩm mang cùng một lỗi. Nếu lead time rút xuống 7.5 ngày, độ trễ phát hiện cũng chỉ còn 7.5 ngày. Người ta nói giảm bán thành phẩm cũng có tác dụng với chất lượng chính là vì độ chênh thời gian này thu hẹp lại.
Bốn nguyên nhân khiến bán thành phẩm chất đống giữa các công đoạn
Vậy tại sao bán thành phẩm lại chất đống? Bài giải thích của IPROS sắp xếp bốn yếu tố cản trở việc giảm tồn kho bán thành phẩm. Chúng khá khớp với cảm nhận tại hiện trường, nên ta xem lần lượt.
Thứ nhất, ứng phó chưa đủ với biến động nhu cầu. Vì không đoán được đơn hàng, người ta cho công đoạn trước chạy trước để lúc nào cũng có hàng giao được. Xét riêng lẻ, quyết định này hợp lý. Không đáp ứng được yêu cầu tăng sản lượng đột xuất thì mất niềm tin của khách hàng. Tuy nhiên, khi mua bảo hiểm cho việc không đoán được nhu cầu bằng bán thành phẩm, phí bảo hiểm sẽ phát sinh mỗi ngày dưới dạng giá trị tồn kho và diện tích lưu trữ. Hơn nữa, phần dự đoán sai sẽ biến thẳng thành tồn đọng.
Thứ hai, kế hoạch sản xuất kém hiệu quả. Phần lớn trường hợp không phải là không có kế hoạch, mà là kế hoạch không phản ánh được thông tin theo thời gian thực. Kế hoạch lập đầu tuần không tính được sự cố thiết bị hay việc làm lại do hàng lỗi phát sinh giữa tuần. Trong khi vẫn tiếp tục đưa hàng vào theo kế hoạch, các công đoạn hạ nguồn lại đang chậm. Khoảng chênh đó biến thành đống hàng giữa các công đoạn.
Thứ ba, thiếu phối hợp giữa các công đoạn. Công đoạn trước cố đạt chỉ tiêu sản lượng của mình, công đoạn sau xử lý trong phạm vi năng lực của mình. Nếu giữa hai bên không chia sẻ thông tin về việc đã chuyển bao nhiêu và đang chờ bao nhiêu, công đoạn trước không có lý do gì để dừng. Ở những nhà máy lấy tỷ lệ vận hành của từng công đoạn làm chỉ số đánh giá, xu hướng này còn mạnh hơn. Bởi hành động nâng tỷ lệ vận hành và hành động giảm bán thành phẩm xung đột trực diện với nhau.
Thứ tư, làm lại do vấn đề chất lượng. Khi hàng không đạt ở khâu kiểm tra quay ngược về công đoạn trước, tồn kho giữa các công đoạn tăng đúng bằng lượng đó. Hơn nữa hàng làm lại nằm ngoài dòng chảy chính thức nên rất dễ lọt khỏi quản lý tiến độ thông thường. Tình trạng “thùng kia là hàng chờ gia công lại” chỉ tồn tại trong đầu người phụ trách là cảnh thấy ở mọi nhà máy. Ngày người đó nghỉ, sự tồn tại của cái thùng ấy biến mất.
Trong bốn nguyên nhân, thứ hai và thứ ba là vấn đề thông tin, thứ nhất và thứ tư là vấn đề vận hành. Và nếu không giải vấn đề thông tin trước thì cũng không chạm được vào vấn đề vận hành. Bởi để quyết định nên giữ bao nhiêu bảo hiểm cho biến động nhu cầu, ta cần biết hiện đang giữ bao nhiêu. Bài giải thích của IPROS cũng nêu các biện pháp gồm dự báo nhu cầu bằng AI, quản lý thời gian thực bằng IoT và MES, hệ thống quản lý sản xuất tích hợp, và tăng cường kiểm tra chất lượng, nhưng tất cả đều lấy tiền đề là dữ liệu hiện trạng đã lấy được.
Tình huống mô hình | Đếm bán thành phẩm tại nhà máy linh kiện ô tô ở tỉnh Chonburi

Từ đây ta đi vào một tình huống mô hình cụ thể. Phần dưới là tình huống mô hình dựa trên ước tính độc lập, không phải số liệu của một doanh nghiệp có thật. Thay vì bản thân con số tiền hay số lượng, xin hãy nhìn vào cấu trúc: tồn đọng sinh ra ở đâu, và trực quan hóa làm dịch chuyển điều gì.
Tiền đề như sau. Một nhà máy gia công linh kiện ô tô vốn Nhật tại tỉnh Chonburi, Thái Lan, 180 nhân viên. Nhà máy có một chuyền khép kín gồm 5 công đoạn: cắt gọt, xử lý nhiệt, mài, lắp ráp, kiểm tra. Vận hành 22 ngày mỗi tháng, sản lượng thành phẩm là 2,000 sản phẩm mỗi ngày. Quản lý hiện vật bán thành phẩm được làm bằng phiếu hiện vật viết tay và Excel, kiểm kê thực tế mỗi tháng một lần. Đây là cấu hình hết sức tiêu chuẩn với một nhà máy gia công vốn Nhật tại Thái Lan.
Trong một lần kiểm kê thực tế cuối tháng, họ đếm bán thành phẩm theo từng công đoạn và nhân với đơn giá tương ứng để quy ra tiền, kết quả như bảng dưới. Đơn giá là chi phí đã đổ vào tính đến thời điểm hàng đi đến công đoạn đó.
| Nơi tồn đọng | Đơn giá (THB/sản phẩm) | Số lượng (sản phẩm) | Giá trị tồn kho (THB) |
|---|---|---|---|
| Chờ cắt gọt | 60 | 4,000 | 240,000 |
| Chờ xử lý nhiệt | 120 | 7,200 | 864,000 |
| Chờ mài | 180 | 5,600 | 1,008,000 |
| Chờ lắp ráp | 260 | 4,400 | 1,144,000 |
| Chờ kiểm tra | 380 | 2,800 | 1,064,000 |
| Tổng cộng | 24,000 | 4,320,000 |
Tổng cộng 24,000 sản phẩm, quy ra tiền là 4,320,000 THB. Ban lãnh đạo nhà máy này đã không nắm được tổng giá trị bán thành phẩm cho đến khi nhìn thấy bảng trên. Bảng cân đối thử hằng tháng có ghi số dư tài khoản bán thành phẩm, nhưng không ai nhìn xem nó nằm ở đâu trong chuyền và tồn tại dưới hình dạng nào.
Trước hết, hãy áp dụng định luật Little. Lấy 24,000 bán thành phẩm chia cho throughput 2,000 sản phẩm mỗi ngày, lead time là 12.0 ngày. Nghĩa là trung bình mất 12.0 ngày kể từ khi đưa nguyên vật liệu vào cho đến khi hoàn thiện. Cộng toàn bộ thời gian gia công thuần của 5 công đoạn cũng không tới gần con số ngày này, nên gần như toàn bộ phần còn lại là thời gian chờ.
Con số 12.0 ngày lệch khá xa so với cảm nhận của hiện trường. Hỏi người phụ trách hiện trường “gia công mất bao lâu?”, họ trả lời bằng thời gian gia công thuần. Hỏi bộ phận kinh doanh “thời hạn giao hàng là bao lâu?”, họ trả lời bằng số ngày đã tính dư an toàn. Còn “thời gian chờ” nằm giữa hai con số đó thì không ai phụ trách, nên không ai trả lời được. Chỉ khi đếm bán thành phẩm, thời gian chờ ấy mới thành con số.
Còn một điều nữa cần đọc ra từ bảng này. Số lượng nhiều nhất là chờ xử lý nhiệt với 7,200 sản phẩm, nhưng giá trị lớn nhất là chờ lắp ráp với 1,144,000 THB. Vì đơn giá khác nhau. Ưu tiên theo số lượng hay ưu tiên theo giá trị sẽ dẫn đến việc bắt tay vào những chỗ khác nhau. Không có cái nào đúng tuyệt đối; cách dùng là muốn rút ngắn lead time thì nhìn số lượng, muốn giải phóng vốn thì nhìn giá trị.
Tồn đọng tập trung ở đâu – giữa cắt gọt và xử lý nhiệt
Nhìn vào chi tiết theo công đoạn, 7,200 sản phẩm chờ xử lý nhiệt nổi bật hẳn lên. Đúng ba phần mười của tổng số 24,000 đang dồn vào đúng một chỗ giữa cắt gọt và xử lý nhiệt. Khi tìm hiểu lý do, hóa ra có một nguyên nhân mang tính cấu trúc.
Xử lý nhiệt là công đoạn theo mẻ. Người ta cho một lượng nhất định vào lò cùng lúc và xử lý ở nhiệt độ và thời gian đã định. Không thể cho chạy từng sản phẩm một, nên chỉ có hai lựa chọn: chờ cho đầy lò, hoặc chạy lò khi chưa đầy. Chạy lò rỗng thì lãng phí nhiên liệu, nên đương nhiên hiện trường chờ cho đầy. Sự chờ đợi đó biến thành đúng đống bán thành phẩm sau cắt gọt.
Thêm nữa, “mức độ chi tiết” của dòng chảy thay đổi ở trước và sau xử lý nhiệt. Cắt gọt là công đoạn chảy từng sản phẩm một, xử lý nhiệt là công đoạn chảy theo mẻ, mài lại là công đoạn từng sản phẩm một. Khi xử lý liên tục và xử lý theo mẻ xen kẽ nhau, tại điểm nối chắc chắn phát sinh tồn kho. Đây không phải do vận hành hiện trường kém, mà là điều tất yếu do bản chất công đoạn khác nhau.
Tuy nhiên, phần phát sinh tất yếu và phần phát sinh do thiếu quản lý là hai chuyện khác nhau. Ở nhà máy này, lượng xử lý mỗi lần của lò là 1,000 sản phẩm, và lò chạy 2 lần mỗi ngày. Lượng xử lý một ngày là 2,000 sản phẩm, vừa đúng cân bằng với throughput của chuyền. Nghĩa là lượng tồn đọng cần thiết về mặt công đoạn là 2 mẻ xử lý trong ngày, tức khoảng 2,000 sản phẩm. Thực tế lại đang đặt 7,200 sản phẩm, quy ra ngày là 3.6 ngày. Phần chênh 5,200 sản phẩm không đến từ bản chất công đoạn, mà là phần có khả năng là dư thừa, do thời điểm đưa hàng vào không khớp với năng lực hạ nguồn.
Vì sao phần dư sinh ra? Vì công đoạn cắt gọt vận hành theo hướng tối đa hóa tỷ lệ vận hành của chính nó. Dừng máy cắt gọt thì tỷ lệ vận hành giảm, và con số đó lưu lại trong báo cáo ngày. Còn việc bán thành phẩm chất đống trước xử lý nhiệt thì không để lại con số ở đâu cả. Khi có chỉ số được đánh giá và chỉ số không được đánh giá, con người sẽ hành động theo chỉ số được đánh giá. Đây không phải chuyện quy trách nhiệm, mà là chuyện thiết kế chỉ số.
5,600 sản phẩm chờ mài cũng có bối cảnh tương tự. Hàng sau xử lý nhiệt đôi khi có độ cứng phân tán, nên chưa thể chuyển sang công đoạn sau cho đến khi đạt kiểm tra mẫu. Thời gian chờ kiểm tra này tích lũy lại thành đống hàng chờ mài. Ở đây cũng vậy, phần chờ cần thiết và phần chờ dư đang trộn lẫn, không tách ra thì không phán đoán được dư địa cắt giảm.
Khi nhìn tồn kho giữa các công đoạn, điểm phân nhánh là ta có giải thích được “vì sao nó nằm ở đó” bằng cách tách bản chất công đoạn và tình trạng quản lý hay không. Phần không giải thích được chính là phần cắt giảm được. Ngược lại, nếu cắt cả phần giải thích được thì lần sau chuyền sẽ dừng.
Với phiếu hiện vật giấy, phải đến ngày kiểm kê mới nhận ra tồn đọng
Nhà máy trong tình huống mô hình đang dùng phiếu hiện vật viết tay và Excel. Dán phiếu giấy lên thùng tuần hoàn chứa hàng, mỗi lần đi qua một công đoạn thì người phụ trách ghi số lượng và ngày tháng, cuối ngày nhân viên văn phòng nhập lại vào Excel. Đây là cách làm tiêu chuẩn, thấy ở rất nhiều nhà máy.
Vấn đề của cách làm này không nằm ở độ chính xác. Nội dung được ghi phần lớn là đúng. Vấn đề nằm ở ba chỗ.
Thứ nhất, độ trễ tổng hợp. Con số được ghi tại hiện trường vào được Excel sớm nhất là hôm sau, những lúc bận thì trễ vài ngày. Chỉ khi tổng hợp xong mới thấy được số dư theo công đoạn, nên “hiện tại có bao nhiêu” luôn là hình ảnh của quá khứ. Từ lúc tồn đọng bắt đầu cho đến khi nó hiện lên thành con số luôn có một độ trễ.
Thứ hai, thời gian tồn đọng không được ghi lại. Phiếu hiện vật có ghi cái thùng đó đi qua công đoạn vào lúc nào, nhưng không ai ý thức về việc nó đã nằm ở đó từ bao giờ. Chỉ cần tổng lượng khớp thì dù có cái thùng nằm im hàng tháng trời ở góc trong của khu vực chứa, số tổng hợp vẫn không đổi, nên góc nhìn thời gian rơi mất.
Thứ ba, gánh nặng nhập liệu quyết định luôn tần suất trực quan hóa. Ở nhà máy này, việc viết tay phiếu hiện vật và nhập vào Excel tiêu tốn tổng cộng 4.5 giờ mỗi ngày. Chính vì vậy, việc nắm toàn bộ số lượng với tần suất dày hơn một lần kiểm kê mỗi tháng là bất khả thi trên thực tế. Muốn tăng tần suất thì phải tăng người tương ứng.
Bài viết của Fabrico về giảm bán thành phẩm nói rất gọn về tình trạng này: khi quản lý bán thành phẩm bằng phiếu hiện vật giấy, ta chỉ nhận ra sự tồn tại của nó vào ngày kiểm kê. Thứ mà phiếu giấy ghi lại chỉ là những “điểm” đi qua công đoạn. Hàng đã chờ bao nhiêu ngày giữa điểm này và điểm kia thì không lưu lại ở đâu. Tồn đọng không hiện ra dưới dạng điểm mà dưới dạng độ dài giữa hai điểm, nên về nguyên lý hình thức này không bắt được nó.
Bản thân việc quản lý bằng Excel không phải là điều xấu. Chỉ là ngay khi đối tượng xử lý trở thành thứ chuyển động không ngừng, Excel không còn phù hợp. Vì công sức nhập liệu quyết định tần suất cập nhật, và tần suất cập nhật quyết định tốc độ ra quyết định. Về cách nhận biết giới hạn này, chúng tôi đã sắp xếp chi tiết trong bài giới hạn của quản lý bằng Excel và tiêu chí để chuyển đổi, mời bạn tham khảo thêm.
Phiếu hiện vật giấy còn một tác dụng phụ nữa là chênh lệch kiểm kê. Ở nhà máy mô hình này, chênh lệch giữa số lượng kiểm kê thực tế và số lượng sổ sách là 3.2%, quy ra là 768 sản phẩm. Nguyên nhân có nhiều: bỏ sót khi nhập, ghi sai, mất phiếu, tính trùng hàng gia công lại. Từng vụ thì nhỏ, nhưng khi số lượng tích lại thì ảnh hưởng đến độ chính xác của giá thành.
Hệ thống quản lý hiện vật thay đổi điều gì – ba cách thu thập dữ liệu tự động
Bản chất của hệ thống quản lý hiện vật là thay phần mà con người viết và con người nhập lại bằng cơ chế máy đọc. Bài viết của SmartMat Cloud về trực quan hóa nhà máy nêu việc dùng cảm biến IoT và điện toán đám mây để số hóa tỷ lệ vận hành, tồn kho và chất lượng; còn bài viết của Factory Advance về quản lý giá thành theo thời gian thực giới thiệu phương thức để người vận hành nhập kết quả ngay tại chỗ bằng máy tính bảng, mã QR và đầu đọc mã vạch. Cả hai đều cùng một hướng: lấy dữ liệu mà không qua trí nhớ và chữ viết tay của con người. Phương tiện chia thành ba nhóm lớn.
Cách thứ nhất là mã vạch và mã QR. In mã lên thùng tuần hoàn hoặc phiếu hiện vật, và quét bằng máy cầm tay khi hàng đi qua công đoạn. Ưu điểm là chi phí triển khai thấp nhất và giữ nguyên được cách vận hành phiếu hiện vật hiện có. Mặt khác, việc quét phụ thuộc vào thao tác của con người nên vẫn có chuyện quên quét. Bí quyết thực tế là gắn điểm quét vào lối ra vào của công đoạn, tạo ra dòng di chuyển mà không quét thì không đi tiếp được.
Cách thứ hai là RFID. Gắn thẻ IC lên thùng tuần hoàn và tự động phát hiện việc đi qua bằng ăng-ten cổng đặt tại lối ra vào công đoạn. Vì không cần thao tác của con người nên về nguyên lý không xảy ra chuyện quên quét. Ở nhà máy xử lý chi tiết kim loại, phản xạ sóng vô tuyến đôi khi gây vấn đề, nên bắt buộc phải kiểm chứng trước về loại thẻ và vị trí gắn. Nếu vận hành theo hướng gắn lên thùng tuần hoàn và dùng lặp lại, đơn giá thẻ được chia cho số lần sử dụng nên chi phí trên mỗi chi tiết trở nên nhỏ.
Cách thứ ba là cảm biến và camera. Gồm các phương pháp như ước lượng số lượng trong thùng bằng cảm biến trọng lượng, chụp tình trạng chiếm dụng khu vực chứa bằng camera trần, đếm số lượng thực tế từ tín hiệu của máy gia công. Vì không phải gắn gì lên hiện vật nên phù hợp với công đoạn xử lý số lượng lớn chi tiết nhỏ. Không truy vết được đến từng cá thể, nhưng đủ để biết “khu vực chứa đang tồn đọng bao nhiêu”.
Chọn cái nào trong ba cách phụ thuộc vào bản chất công đoạn. Nguyên tắc cơ bản là cần truy xuất nguồn gốc đến từng cá thể thì dùng RFID hoặc mã vạch, chỉ cần biết tổng lượng tại khu vực chứa thì dùng cảm biến hoặc camera. Trên thực tế, cách khả thi là dùng phân biệt theo từng công đoạn, không cần thống nhất toàn bộ công đoạn về cùng một phương thức.
Và dù chọn phương thức nào, thứ thu được vẫn giống nhau. “Khi nào, ở đâu, có bao nhiêu” được ghi lại mà không cần bàn tay con người, và độ trễ tổng hợp biến mất. Chỉ đến lúc này, chỉ số thời gian tồn đọng mới tính được. Biết được một cái thùng đã nằm nguyên một chỗ bao nhiêu ngày, ta xác định được nơi nguyên tắc nhập trước xuất trước bị phá vỡ. Đây là thông tin mà vận hành bằng giấy về nguyên lý không lấy được.
Kết nối sang tính giá thành cũng trở nên khả thi từ cùng bộ dữ liệu ấy. Khi kết quả đi qua công đoạn tự động tích lũy, ta biết theo ngày có bao nhiêu sản phẩm đã tiến đến công đoạn nào, nên dữ liệu gốc để phân bổ theo mức độ hoàn thành gia công có sẵn luôn. Công việc dừng hiện trường để đếm vào cuối tháng được thay bằng sự tích lũy của ghi chép hằng ngày.
Sau khi triển khai trong tình huống mô hình | Thay đổi về giá trị tồn kho bán thành phẩm và lead time

Nhà máy trong tình huống mô hình đã triển khai gắn thẻ RFID lên thùng tuần hoàn và đọc tự động bằng cổng đặt tại lối ra vào công đoạn. Song song, họ chuyển sang cách vận hành siết lượng đưa vào ở công đoạn cắt gọt cho khớp với kế hoạch vận hành lò xử lý nhiệt. Trạng thái sau 6 tháng như bảng dưới. Xin nhắc lại, đây là ước tính độc lập, không phải số liệu của doanh nghiệp có thật.
| Nơi tồn đọng | Đơn giá (THB/sản phẩm) | Số lượng (sản phẩm) | Giá trị tồn kho (THB) |
|---|---|---|---|
| Chờ cắt gọt | 60 | 2,500 | 150,000 |
| Chờ xử lý nhiệt | 120 | 4,200 | 504,000 |
| Chờ mài | 180 | 3,400 | 612,000 |
| Chờ lắp ráp | 260 | 2,900 | 754,000 |
| Chờ kiểm tra | 380 | 2,000 | 760,000 |
| Tổng cộng | 15,000 | 2,780,000 |
Đặt các chỉ số chính trước và sau khi triển khai cạnh nhau, ta có bảng sau.
| Chỉ số | Trước triển khai | Sau triển khai | Chênh lệch |
|---|---|---|---|
| Số lượng bán thành phẩm (sản phẩm) | 24,000 | 15,000 | giảm 9,000 |
| Giá trị tồn kho bán thành phẩm (THB) | 4,320,000 | 2,780,000 | giảm 1,540,000 |
| Lead time (ngày) | 12.0 | 7.5 | rút ngắn 4.5 |
| Tỷ lệ chênh lệch kiểm kê (%) | 3.2 | 0.4 | cải thiện 2.8 điểm |
| Số lượng chênh lệch kiểm kê (sản phẩm) | 768 | 60 | giảm 708 |
| Diện tích chứa bán thành phẩm (mét vuông) | 480 | 300 | giảm 180 |
| Công sức nhập phiếu hiện vật (giờ/ngày) | 4.5 | 0.5 | giảm 4.0 |
Số lượng giảm từ 24,000 xuống 15,000 sản phẩm, tức giảm 9,000. Tỷ lệ cắt giảm là 37.5%. Giá trị tồn kho giảm từ 4,320,000 THB xuống 2,780,000 THB, tức giảm 1,540,000 THB. Tỷ lệ cắt giảm ở đây là 35.6%, nhỏ hơn một chút so với tỷ lệ cắt giảm về số lượng. Lý do là phần lớn việc cắt giảm diễn ra ở các công đoạn nửa đầu có đơn giá thấp. Chờ cắt gọt giảm 1,500 sản phẩm, chờ xử lý nhiệt giảm 3,000 sản phẩm, tổng cộng 4,500 sản phẩm; trong khi chờ kiểm tra với đơn giá 380 THB chỉ giảm 800 sản phẩm. Tỷ lệ cắt giảm về số lượng và về tiền lệch nhau chính vì cấu trúc này.
Lead time diễn biến đúng như định luật Little. 15,000 ÷ 2,000 cho ra 7.5 ngày, rút ngắn 4.5 ngày so với 12.0 ngày trước triển khai. Tỷ lệ rút ngắn là 37.5%, trùng khít với tỷ lệ cắt giảm số lượng. Vì throughput không đổi nên đương nhiên phải như vậy. Sự trùng khớp này không phải ngẫu nhiên mà là bằng chứng xác nhận định luật đang thành lập, nên trong dự án thực tế nhất định phải kiểm tra lại phép tính. Nếu con số không khớp thì đâu đó có một tiền đề đã thay đổi.
Tỷ lệ chênh lệch kiểm kê cải thiện từ 3.2% xuống 0.4%. Về số lượng là từ 768 xuống 60 sản phẩm. Đây là hiệu quả của việc xóa bỏ nhập liệu thủ công, và nó không hẳn là thành quả của biện pháp cắt giảm mà là sản phẩm phụ đi kèm tự động khi thay đổi cách lấy dữ liệu. Chênh lệch nhỏ lại thì độ chính xác của giá thành tăng lên, và bảng cân đối thử hằng tháng bắt đầu khớp với thực tế hiện trường.
Diện tích chứa bán thành phẩm giảm từ 480 mét vuông xuống 300 mét vuông, tức giảm 180 mét vuông. Tỷ lệ cắt giảm là 37.5%, bằng đúng tỷ lệ cắt giảm số lượng. Diện tích trống ra được dùng để lắp đặt một cụm gia công mới. Nghĩa là nhà máy có dư địa tăng năng lực sản xuất mà không cần mở rộng mặt bằng. Hiệu quả về diện tích khó quy ra tiền, nhưng xét ở khía cạnh trì hoãn được quyết định xây thêm nhà xưởng, trên thực tế nó có tác dụng rất lớn.
Công sức nhập phiếu hiện vật giảm từ 4.5 giờ xuống 0.5 giờ mỗi ngày, tức giảm 4.0 giờ. 0.5 giờ còn lại dành cho việc kiểm tra lỗi đọc và xử lý ngoại lệ. Tự động hóa rồi thì ngoại lệ cũng không về không. Nếu lập kế hoạch nhân sự mà không tính phần này, hiện trường sẽ không chạy được.
Bốn con đường mà việc giảm bán thành phẩm tác động đến dòng tiền
Với câu hỏi giảm bán thành phẩm thì công ty tốt lên ở điểm nào, có thể giải thích bằng bốn con đường. Bài viết của Biznet về rút ngắn lead time cũng sắp xếp việc giảm tồn kho bán thành phẩm dẫn tới cải thiện dòng tiền và tối ưu diện tích lưu trữ; còn bài viết của ISDI Imaoka System Dynamics Institute bàn về lý do rút ngắn lead time gắn với lợi nhuận doanh nghiệp. Ta xem lần lượt.
Con đường thứ nhất là giải phóng vốn lưu động. Giá trị tồn kho bán thành phẩm giảm 1,540,000 THB nghĩa là khoản tiền mặt tương ứng được giải phóng khỏi hình dạng tồn kho. Khoản này không hiện ra dưới dạng lợi nhuận trên báo cáo kết quả kinh doanh, nhưng cơ cấu tài sản trên bảng cân đối kế toán thay đổi và dòng tiền dễ thở hơn. Đặc biệt ở những nhà máy có điều kiện giao dịch mà việc trả tiền mua vật tư đến trước còn thu hồi công nợ đến sau, khoảng chênh này chính là mức dư dả của dòng tiền.
Con đường thứ hai là giảm chi phí lưu trữ. Không chỉ trống chỗ, mà số thùng tuần hoàn, số lần vận chuyển, thời gian chạy xe nâng và công sức quản lý khu vực chứa đều giảm. Trong tình huống mô hình, 180 mét vuông được giải phóng. Có thể quy đổi phần này ra tiền thuê, nhưng thực tế nó thường được dùng làm chỗ đặt thiết bị mới, và khi đó giá trị lớn hơn tiền thuê.
Con đường thứ ba là giảm rủi ro chất lượng. Thời gian tồn đọng ngắn lại thì rủi ro gỉ sét, biến chất, bám bẩn và lỗi thời do thay đổi thiết kế đều giảm. Thêm nữa, như đã nói ở trên, thời gian từ lúc phát sinh lỗi ở thượng nguồn đến lúc phát hiện ở hạ nguồn được rút ngắn, nên lượng hàng lỗi tiếp tục được sản xuất cũng giảm. Lead time co từ 12.0 ngày xuống 7.5 ngày cũng có nghĩa là lỗi được phát hiện sớm hơn tối đa 4.5 ngày.
Con đường thứ tư là mở rộng cơ hội nhận đơn nhờ rút ngắn lead time. Khi thời hạn giao hàng chào cho khách ngắn lại, nhà máy nhận được các đơn hàng giao gấp. Trong lĩnh vực linh kiện ô tô, khả năng bám theo thay đổi kế hoạch sản xuất của khách hàng đôi khi là điều kiện để duy trì quan hệ giao dịch, và năng lực này phát huy như một sức cạnh tranh ngoài giá. Về cơ chế phát sinh chậm giao hàng và các biện pháp có thể triển khai trước khi nó xảy ra, chúng tôi đã sắp xếp trong bài tư duy quản lý công đoạn để ngăn chậm giao hàng từ sớm.
Trong bốn con đường, dễ giải thích với ban lãnh đạo là con đường thứ nhất và thứ hai, còn hiện trường dễ cảm nhận là con đường thứ ba và thứ tư. Khi cần xin phê duyệt dự án, hãy đưa con đường thứ nhất ra trước; khi cần sự hợp tác của hiện trường, hãy đưa con đường thứ ba và thứ tư ra trước, câu chuyện sẽ trôi hơn. Cùng một biện pháp nhưng nói gì với ai sẽ quyết định cách nó được tiếp nhận.
Bốn bước triển khai trực quan hóa tiến độ công đoạn theo giai đoạn

Trực quan hóa tiến độ công đoạn nếu cố làm hết một lượt thì chắc chắn sẽ dừng giữa chừng. Hãy chia giai đoạn để tiến hành. Chúng tôi sắp xếp thành bốn bước.
Bước thứ nhất là định danh hiện vật. Quyết định lấy cái gì làm một đơn vị để đếm, và gán mã định danh cho đơn vị đó. Theo thùng tuần hoàn, theo pallet, theo lô, hay theo từng cá thể? Càng chia nhỏ thì thông tin càng nhiều, nhưng gánh nặng vận hành cũng tăng. Ở phần lớn nhà máy gia công, đơn vị thùng tuần hoàn là điểm xuất phát thực tế. Điều cần quyết ở giai đoạn này là thống nhất mức độ chi tiết của đơn vị đếm. Nếu mỗi công đoạn dùng một đơn vị khác nhau thì sau này số lượng sẽ không khớp.
Bước thứ hai là thu thập dữ liệu tự động. Với đơn vị đã chọn, ghi lại tự động kết quả đi qua công đoạn bằng một trong ba cách: mã vạch, RFID hoặc cảm biến. Không cần làm toàn bộ công đoạn cùng lúc. Bắt đầu từ chỗ giữa hai công đoạn có tồn đọng lớn nhất là hiệu quả nhất. Với tình huống mô hình thì sẽ là bắt đầu từ trước và sau xử lý nhiệt. Chỉ cần tự động hóa được một chỗ, riêng chỗ đó đã có số liệu theo ngày và có thể trình bày hiệu quả trong nội bộ.
Bước thứ ba là hiển thị tiến độ công đoạn. Chia dữ liệu thu được thành màn hình cho hiện trường và màn hình cho quản lý. Hiện trường cần biết “công đoạn của tôi đang có bao nhiêu hàng chờ”, còn quản lý cần biết “toàn bộ chuyền, chỗ nào có bao nhiêu”. Nếu cố gộp vào cùng một màn hình, nó sẽ thành thứ quá nhiều thông tin với cả hai bên. Nguyên tắc với màn hình cho hiện trường là một tấm lớn, đặt ở vị trí nhìn thấy từ lối đi.
Bước thứ tư là so sánh với chuẩn. Đặt “lượng bán thành phẩm nên có” cho từng khoảng giữa các công đoạn và so với lượng thực tế. Lượng nên có được quyết định từ căn cứ cụ thể như lượng xử lý một ngày của công đoạn hạ nguồn, hoặc một mẻ nếu là công đoạn theo mẻ. Không có chuẩn này thì nhìn con số hiển thị cũng không phán đoán được là nhiều hay ít. Nguyên nhân lớn nhất khiến trực quan hóa kết thúc ở mức “chỉ để cho thấy” chính là sự thiếu vắng bước thứ tư.
Trong bốn bước, bước một và hai là công việc triển khai, bước ba và bốn là thiết kế vận hành. Và hiệu quả chỉ xuất hiện khi đã tới bước bốn. Không ít nhà máy dừng lại ở bước ba: có màn hình, nhưng chưa ai quyết ai sẽ làm gì khi nhìn con số đó. Ngay từ giai đoạn lập kế hoạch triển khai, hãy đưa vào cả việc ai sẽ quyết giá trị chuẩn của bước bốn và quyết bằng cách nào.
Về nhịp độ triển khai, chia sẻ cảm nhận trong phạm vi các dự án chúng tôi đã hỗ trợ: bước một và bước hai nếu chỉ khoanh vào khoảng giữa các công đoạn có tồn đọng lớn thì khởi động khá nhanh, nhưng riêng giá trị chuẩn của bước bốn thì chưa thể chốt cho đến khi dữ liệu thu tự động tích lũy đủ. Đừng cố quyết tất cả cùng lúc; hãy để việc thiết lập giá trị chuẩn ở sau cùng. Nếu ấn định thời hạn trước rồi tính ngược lại, căn cứ của giá trị chuẩn chắc chắn sẽ mỏng.
Cách nhìn về chi phí và thu hồi vốn của hệ thống quản lý bán thành phẩm
Nói về chi phí. Ở nhà máy trong tình huống mô hình, chi phí đầu tư ban đầu của hệ thống là 1,200,000 THB, chi phí bảo trì hằng năm là 180,000 THB. Chi phí ban đầu bao gồm thẻ RFID và ăng-ten cổng, thiết bị đầu cuối để đọc, máy chủ và phần mềm, thi công lắp đặt, thiết kế vận hành và đào tạo tại hiện trường. Đây cũng là ước tính độc lập, xin lưu ý rằng con số thay đổi rất nhiều theo cấu hình và quy mô.
Khi tính thu hồi vốn, hãy tách hiệu quả một lần và hiệu quả thường xuyên. Trộn lẫn hai loại sẽ dẫn đến phán đoán sai.
Hiệu quả một lần là giải phóng vốn lưu động. Giá trị tồn kho bán thành phẩm giảm 1,540,000 THB nên khoản tiền mặt tương ứng quay về tay một lần. Con số 1,540,000 THB này lớn hơn chi phí ban đầu 1,200,000 THB. Tuy nhiên, năm sau sẽ không có khoản tương tự quay về, nên không được tính nó như hiệu quả hằng năm. Nó chỉ mang tính chất là nguồn vốn dùng được cho khoản đầu tư ban đầu.
Hiệu quả thường xuyên có hai khoản. Một là giảm công sức. Viết tay và nhập phiếu hiện vật giảm 4.0 giờ mỗi ngày, với 22 ngày vận hành mỗi tháng là 88 giờ, cả năm là 1,056 giờ. Nếu đặt đơn giá giờ của bộ phận gián tiếp sản xuất là 150 THB mỗi giờ thì mỗi năm là 158,400 THB. Khoản còn lại là giảm chi phí giữ tồn kho. Nếu đặt tỷ lệ chi phí giữ tồn kho gồm chi phí vốn, chi phí bảo quản và rủi ro lỗi thời là 12% mỗi năm, thì trên phần giá trị tồn kho đã cắt giảm 1,540,000 THB, mỗi năm là 184,800 THB.
Cộng hai khoản này lại, hiệu quả thường xuyên hằng năm là 343,200 THB. Trừ đi chi phí bảo trì 180,000 THB, giá trị ròng thường xuyên là 163,200 THB mỗi năm.
Xếp các con số lại, khoản đầu tư này có hình dạng “năm đầu tiên dùng phần vốn lưu động được giải phóng để bù chi phí ban đầu, từ năm thứ hai trở đi tích lũy giá trị ròng 163,200 THB mỗi năm”. Đây không phải mức lợi nhuận hào nhoáng. Quyết định đầu tư vào hệ thống quản lý bán thành phẩm, trong phần lớn trường hợp, dừng lại ở mức độ như vậy.
Do đó, nếu chỉ phán đoán bằng tiền thì đây là khoản đầu tư khó được phê duyệt. Trong thực tế, ta phải giải thích kèm cả những hiệu quả khó quy ra tiền. Có thể đặt gì vào 180 mét vuông vừa trống ra? Có đơn hàng nào trở nên nhận được nhờ lead time rút ngắn 4.5 ngày? Số ngày phải dừng chuyền để kiểm kê có giảm không? Những thứ này khó đưa vào bảng tính, nhưng có giá trị thực chất với cả hiện trường lẫn ban lãnh đạo.
Về hướng tiết giảm chi phí, có một lựa chọn là không lấy toàn bộ công đoạn làm đối tượng cùng lúc. Như đã nói, nếu bắt đầu từ khoảng giữa các công đoạn có tồn đọng lớn nhất, ta vừa chia nhỏ được chi phí ban đầu vừa xác nhận được hiệu quả. Với cấu hình của tình huống mô hình, phương án hợp lý là bắt đầu chỉ với 2 vị trí trước và sau xử lý nhiệt.
Không được giảm bán thành phẩm quá mức – cách xác định mức hợp lý
Đến đây ta đã nói nhiều về cắt giảm, nhưng bán thành phẩm không phải thứ nên đưa về không. Tồn kho giữa các công đoạn có vai trò hấp thụ biến động của công đoạn trước. Bỏ nó đi thì chỉ cần công đoạn trước dừng một khoảnh khắc, công đoạn sau cũng dừng theo.
Cách xác định mức hợp lý chia thành ba nhóm theo bản chất công đoạn.
Trước công đoạn theo mẻ, một mẻ là giới hạn dưới tuyệt đối. Với xử lý nhiệt trong tình huống mô hình, lượng xử lý mỗi lần của lò là 1,000 sản phẩm, nên phía trước lò cần tối thiểu 1,000 sản phẩm. Tuy nhiên giới hạn dưới trên thực tế còn cao hơn một chút. Vì lò chạy 2 lần mỗi ngày nên phải để sẵn 2,000 sản phẩm cho phần trong ngày. Việc hàng chờ xử lý nhiệt sau triển khai dừng ở 4,200 sản phẩm là vì ngoài phần trong ngày, nhà máy còn cộng thêm phần để hấp thụ sự cố thiết bị phía cắt gọt và độ phân tán thời gian chuyển đổi setup. Tức là trong 5,200 sản phẩm từng được xem là dư thừa, họ chỉ cắt 3,000 sản phẩm và cố ý giữ lại phần còn lại.
Trước công đoạn có năng lực dao động, hãy giữ đúng bằng biên độ dao động. Đo từ dữ liệu thực tế về tần suất xảy ra sự cố thiết bị và độ phân tán thời gian chuyển đổi setup, rồi đặt lượng đủ để hấp thụ dao động đó. Nếu quyết theo cảm tính kiểu “để dư ra cho chắc” thì chắc chắn sẽ thừa. Có dữ liệu thực tế thì phán đoán này làm được bằng con số. Hiệu quả của trực quan hóa không chỉ nằm ở cắt giảm mà còn ở việc tạo căn cứ cho lượng cần thiết.
Với sản phẩm mà yêu cầu của khách biến động lớn, giữ ở phía thành phẩm sẽ có lợi hơn. Giữ ở dạng bán thành phẩm thì linh hoạt hơn vì chưa chốt sẽ thành mã hàng nào, nhưng giữ ở công đoạn trước đơn giá thấp hay ở công đoạn sau đơn giá cao sẽ làm thay đổi lượng vốn bị giam. Nếu cấu trúc phân nhánh mã hàng xảy ra ở công đoạn sau, thì giữ ngay trước điểm phân nhánh là hợp lý.
Và có những dấu hiệu của việc cắt quá tay. Số lần công đoạn dừng tăng lên, số lần chuyển đổi setup tăng khiến thời gian vận hành thực chất giảm, số lần phải chen hàng gấp tăng. Tất cả đều là triệu chứng dễ xuất hiện ngay sau khi giảm bán thành phẩm. Khi chúng xuất hiện, hãy trả lại một phần lượng đã cắt. Mức hợp lý của bán thành phẩm không phải thứ quyết một lần là xong, mà là thứ phải liên tục điều chỉnh theo dữ liệu thực tế.
Nếu đã có trực quan hóa thì việc điều chỉnh này cũng làm được bằng con số. Đặt cạnh nhau thời điểm công đoạn dừng và số dư bán thành phẩm ngay trước đó, ta biết được xuống dưới mức nào thì chuyền dừng. Với vận hành bằng giấy, quan hệ nhân quả này không thể truy ngược lại được.
Vì sao quản lý bán thành phẩm trở nên quan trọng tại các cơ sở ở Thái Lan trong năm 2026
Có những yếu tố riêng của nhà máy Nhật tại Thái Lan. Bối cảnh khiến mức độ ưu tiên của quản lý bán thành phẩm tăng lên trong năm 2026 nằm ở vấn đề con người.
Bài viết của Allied Corporation về môi trường lao động tại Thái Lan chỉ ra rằng già hóa dân số đã bắt đầu gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn cung lao động, và tình trạng thiếu lao động lành nghề đang trở thành nút thắt cổ chai của ngành chế tạo và dịch vụ. Nói cách khác, cách vận hành lấy sức người làm tiền đề không còn hiển nhiên đứng vững như trước.
Điều này liên quan trực tiếp đến quản lý bán thành phẩm vì việc viết tay và nhập phiếu hiện vật chính là công việc lấy sức người làm tiền đề. Nhà máy trong tình huống mô hình dùng 4.5 giờ mỗi ngày cho công việc này. Hơn nữa, công việc ấy không tạo ra giá trị gia tăng, vì hình dạng của sản phẩm không thay đổi chút nào. Trong giai đoạn tuyển dụng khó hơn và chi phí nhân công tăng lên, việc tiếp tục dành người cho công việc không tạo giá trị gia tăng tự nó đang bào mòn sức cạnh tranh từng chút một.
Một yếu tố đặc thù khác của Thái Lan là tốc độ thay người nhanh. Trong một thị trường lao động mà chuyển việc là chuyện phổ biến, việc người phụ trách hiện trường thay đổi sau 2 đến 3 năm không hề hiếm. Ở nhà máy mà vị trí của bán thành phẩm phụ thuộc vào trí nhớ của người phụ trách, mỗi lần đổi người là độ chính xác của việc nắm bắt lại giảm. Thông tin kiểu “thùng kia là hàng chờ gia công lại” không được bàn giao, rồi tồn đọng bắt đầu ở góc khu vực chứa, là cảnh thực sự hay gặp.
Vòng luân chuyển của quản lý người Nhật cũng tương tự. Thay người sau 3 đến 5 năm thì cảm giác về việc bán thành phẩm nằm ở đâu với số lượng bao nhiêu là bình thường sẽ bị đặt lại sau mỗi lần bàn giao. Nếu giá trị chuẩn được đăng ký trong hệ thống thì bàn giao được, nhưng thứ nằm trong đầu thì không bàn giao được.
Thêm nữa là vấn đề diện tích. Diện tích dùng cho khu chứa bán thành phẩm chính là chi phí cố định. Việc giải phóng được 180 mét vuông như trong tình huống mô hình cũng có nghĩa là trì hoãn được quyết định xây thêm nhà xưởng để tăng sản lượng. Cơ sở nào càng bị giới hạn dư địa mở rộng trong khu công nghiệp thì luận điểm này càng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư thiết bị.
Cuối cùng là chuẩn bị cho yêu cầu của khách hàng. Trong phạm vi các trao đổi chúng tôi nhận được tại hiện trường, số tình huống bị yêu cầu ghi lại việc đi qua công đoạn trong chuỗi cung ứng linh kiện ô tô đang nhiều hơn trước. Cơ chế tự động ghi lại việc bán thành phẩm đi qua công đoạn không chỉ dùng cho mục đích giảm bán thành phẩm mà dùng được luôn cho việc đáp ứng yêu cầu này. Vì một khoản đầu tư đáp ứng được hai mục đích, nó cũng có lợi khi xây dựng tờ trình phê duyệt.
Năm kiểu thất bại thường gặp
Chúng tôi nêu 5 kiểu thất bại đã thực sự chứng kiến tại các nhà máy Nhật ở Thái Lan.
Chốt mục tiêu cắt giảm trước. Đây là kiểu treo mục tiêu “giảm bán thành phẩm ba phần mười” rồi mới bắt tay vào trực quan hóa. Khi mục tiêu có trước, hiện trường sẽ cố giảm trước khi đếm. Kết quả là cắt luôn cả tồn kho đệm cần thiết khiến chuyền dừng, rồi phản ứng ngược lại là ôm nhiều hơn cả trước kia. Thứ tự đúng là đếm, tách nguyên nhân, rồi mới giảm.
Lấy toàn bộ công đoạn làm đối tượng cùng lúc. Lập kế hoạch đưa RFID vào cả 5 công đoạn thì chi phí ban đầu phình to, hoặc tờ trình không được duyệt, hoặc được duyệt nhưng thời gian triển khai kéo dài khiến hiện trường kiệt sức. Bắt đầu từ khoảng giữa các công đoạn có tồn đọng lớn, xác nhận hiệu quả rồi mới mở rộng, rốt cuộc lại nhanh hơn.
Làm xong màn hình là coi như xong. Đây là trường hợp coi dự án đã hoàn thành ngay khi dashboard tiến độ công đoạn được dựng lên. Nếu chưa thiết lập giá trị chuẩn của bước thứ tư, tức so sánh với chuẩn, thì nhìn con số hiển thị cũng chẳng ai hành động. Hãy đưa vào kế hoạch triển khai việc ai sẽ quyết giá trị chuẩn và quyết ra sao.
Giữ nguyên chỉ số đánh giá tỷ lệ vận hành. Nếu vừa tiếp tục đánh giá tỷ lệ vận hành theo từng công đoạn vừa chỉ đạo giảm bán thành phẩm, hiện trường sẽ nhận hai mệnh lệnh mâu thuẫn. Cứ sản xuất liên tục để công đoạn trước không dừng thì tỷ lệ vận hành tăng, nhưng bán thành phẩm cũng tăng. Đã bắt tay vào giảm bán thành phẩm thì phải xem lại cả phía chỉ số đánh giá cùng lúc.
Loại hàng làm lại ra khỏi đối tượng quản lý. Hàng chờ gia công lại nằm ngoài dòng chảy chính thức nên rất dễ lọt khỏi phạm vi định danh và ghi chép. Nhưng chính hàng làm lại mới là thứ dễ tồn đọng lâu nhất. Ngay ở giai đoạn gán mã định danh, nhất định phải quyết cách xử lý hàng làm lại. Cơ chế nào chưa quyết chỗ này thì sau khi vận hành chắc chắn sẽ lệch số lượng.
Câu hỏi thường gặp
Quản lý bán thành phẩm là quản lý những gì?
Đó là hoạt động nắm bắt và duy trì ở mức hợp lý các thông tin về hàng chưa hoàn thiện đang nằm giữa chừng quy trình sản xuất: hiện đang ở công đoạn nào với số lượng bao nhiêu, đã đổ vào bao nhiêu chi phí, và đã nằm ở đó bao lâu. Vì bán thành phẩm ở trạng thái đã phát sinh chi phí như chi phí nguyên vật liệu và chi phí nhân công nhưng chưa bán được, nên phải xử lý đồng thời ba việc: nắm số lượng, phân bổ giá thành và phát hiện tồn đọng. Ở nhà máy, cách làm phổ biến là xác nhận số lượng qua kiểm kê thực tế cuối tháng, nhưng chỉ như vậy thì không biết được giữa tháng đã xảy ra chuyện gì. Thực hành quản lý bán thành phẩm bắt đầu từ việc thay kiểm kê mỗi tháng một lần bằng việc nắm bắt theo ngày.
Tồn kho bán thành phẩm có thể giảm đến mức nào?
Không có câu trả lời chung. Vì giới hạn dưới cần thiết thay đổi theo bản chất công đoạn. Trước công đoạn xử lý theo mẻ cần tối thiểu một mẻ; trước công đoạn có biến động lớn về sự cố thiết bị và chuyển đổi setup cần lượng đủ hấp thụ biến động đó. Trong tình huống mô hình, số lượng giảm 37.5% từ 24,000 xuống 15,000 sản phẩm, và điều đó có được là nhờ trực quan hóa giúp tách “phần giải thích được bằng bản chất công đoạn” và “phần dư do lệch thời điểm đưa hàng vào”. Cắt phần dư không giải thích được, giữ lại phần giải thích được. Có vạch được ranh giới này hay không sẽ quyết định biên độ cắt giảm.
Chi phí cho hệ thống quản lý hiện vật khoảng bao nhiêu?
Vì thay đổi rất nhiều theo cấu hình và quy mô nên không có con số nào khái quát được thành mặt bằng chung. Trong tình huống mô hình, với giả định triển khai đọc tự động bằng RFID cho một chuyền khép kín 5 công đoạn, chúng tôi ước tính chi phí ban đầu 1,200,000 THB và bảo trì hằng năm 180,000 THB. Về khung phán đoán, hãy tách hiệu quả một lần và hiệu quả thường xuyên. Trong tình huống mô hình, phần vốn lưu động được giải phóng 1,540,000 THB lớn hơn chi phí ban đầu 1,200,000 THB, và giá trị ròng thường xuyên là 163,200 THB mỗi năm. Nếu muốn tiết giảm chi phí, phương án bắt đầu chỉ với khoảng giữa các công đoạn có tồn đọng lớn là hữu hiệu.
Nên bắt đầu trực quan hóa tiến độ công đoạn từ đâu?
Hãy bắt đầu từ việc quyết định đơn vị để đếm. Theo thùng tuần hoàn, theo pallet, hay theo lô? Nếu mỗi công đoạn dùng một đơn vị khác nhau thì sau này số lượng sẽ không khớp, nên việc đầu tiên là thống nhất mức độ chi tiết của đơn vị đếm. Tiếp theo, ghi lại tự động kết quả đi qua công đoạn của đơn vị đó bằng mã vạch, RFID hoặc cảm biến. Không cần lấy toàn bộ công đoạn làm đối tượng cùng lúc, chỉ một chỗ giữa hai công đoạn có tồn đọng lớn nhất là đủ. Chỉ cần tự động hóa một chỗ đã có con số theo ngày, và đó trở thành cơ sở phán đoán cho khoản đầu tư tiếp theo. Làm màn hình là việc sau đó.
Định luật Little dùng thế nào tại hiện trường?
Dùng để đặt mục tiêu. Vì lead time bằng lượng tồn kho bán thành phẩm chia cho throughput, nên chừng nào throughput không đổi, lead time và số lượng bán thành phẩm tỷ lệ thuận với nhau. Trong tình huống mô hình, bán thành phẩm giảm 37.5% từ 24,000 xuống 15,000 sản phẩm, và lead time cũng rút ngắn 37.5% từ 12.0 ngày xuống 7.5 ngày. Sự trùng khớp này là phép kiểm tra lại cho việc định luật đang thành lập. Trong dự án thực tế, sau khi cắt giảm nhất định hãy làm phép tính này. Nếu con số không khớp thì hoặc throughput đã thay đổi, hoặc còn công đoạn bị đếm sót.
Tóm tắt
Xin tóm lại các điểm chính.
Bán thành phẩm không giảm được không phải vì hiện trường thiếu nỗ lực. Mà vì không ai biết theo ngày rằng giữa công đoạn này và công đoạn kia đang có bao nhiêu sản phẩm. Kiểm kê thực tế mỗi tháng một lần không cho biết chuyện gì đã xảy ra giữa tháng. Bán thành phẩm là tài sản đã phát sinh chi phí nhưng chưa chuyển thành doanh thu, và vì tăng lên cũng không chặn công việc của ai nên nó mang bản chất dễ bị bỏ mặc.
Theo định luật Little, lead time bằng lượng tồn kho bán thành phẩm chia cho throughput. Không cần tăng thiết bị, chỉ cần giảm bán thành phẩm thì lead time cũng ngắn lại theo tỷ lệ. Tuy nhiên định luật chỉ cho biết cần nhắm tới đâu, còn quy trình để đi tới đó phải chuẩn bị riêng. Hãy đặt trực quan hóa nắm số thực giữa các công đoạn theo ngày lên trước, rồi mới bắt tay vào cắt giảm.
Trong ước tính của tình huống mô hình, nhà máy gia công linh kiện ô tô ở tỉnh Chonburi đang ôm 24,000 bán thành phẩm, quy ra tiền là 4,320,000 THB. Với throughput 2,000 sản phẩm mỗi ngày, lead time là 12.0 ngày. Sau khi triển khai đọc tự động bằng RFID và điều chỉnh lượng đưa vào, bán thành phẩm còn 15,000 sản phẩm và 2,780,000 THB, tức giảm 37.5% về số lượng và 35.6% về giá trị. Lead time rút ngắn 4.5 ngày xuống còn 7.5 ngày, và tỷ lệ rút ngắn 37.5% trùng khít với tỷ lệ cắt giảm số lượng. Tỷ lệ chênh lệch kiểm kê cải thiện từ 3.2% xuống 0.4%, diện tích chứa bán thành phẩm từ 480 mét vuông xuống 300 mét vuông, công sức nhập phiếu hiện vật từ 4.5 giờ xuống 0.5 giờ mỗi ngày. Đây là ước tính độc lập, không phải số liệu của doanh nghiệp có thật, nên xin hãy nhìn vào cấu trúc tồn đọng sinh ra ở đâu và được giải quyết thế nào, thay vì bản thân con số tiền.
Về mặt chi phí, với chi phí ban đầu 1,200,000 THB và bảo trì hằng năm 180,000 THB, hiệu quả một lần là giải phóng vốn lưu động 1,540,000 THB, còn hiệu quả thường xuyên là tổng 343,200 THB gồm giảm công sức 158,400 THB và giảm chi phí giữ tồn kho 184,800 THB; trừ chi phí bảo trì thì giá trị ròng thường xuyên ở mức 163,200 THB mỗi năm. Nhìn thuần bằng tiền thì đây là khoản đầu tư khiêm tốn. Hãy phán đoán kèm cả những hiệu quả khó đưa vào bảng tính như cách dùng diện tích trống ra, các đơn hàng giao gấp trở nên nhận được, và số ngày phải dừng chuyền để kiểm kê.
Thực hành được tiến hành theo bốn bước: định danh hiện vật, thu thập dữ liệu tự động, hiển thị tiến độ công đoạn, so sánh với chuẩn. Hiệu quả chỉ xuất hiện khi đã tới bước thứ tư. Đừng coi là xong khi mới dựng xong màn hình, và bán thành phẩm không phải thứ nên đưa về không mà phải giữ lại phần giải thích được bằng bản chất công đoạn. Hai điểm này là điều kiện để việc cắt giảm được duy trì bền.
Trước hết, hãy thử đếm số thực trong đúng một ngày tại khoảng giữa hai công đoạn mà bạn cảm thấy tồn đọng lớn nhất. Nếu tính xem con số của riêng một chỗ đó tương đương bao nhiêu ngày so với throughput, bạn sẽ có cơ sở để phán đoán việc đầu tư vào trực quan hóa có đáng hay không.
Ngay cả khi bạn đang ở giai đoạn chưa biết giữa các công đoạn có bao nhiêu sản phẩm thì cũng không sao. TOMAS TECH triển khai và vận hành hệ thống quản lý sản xuất cho các nhà máy Nhật tại Thái Lan, và chúng tôi nhận cả những trao đổi bắt đầu từ việc cùng bạn sắp xếp lại hiện trạng công đoạn và thực trạng tồn đọng. Chúng tôi hoan nghênh cả những trao đổi không đặt tiền đề triển khai, nên nếu bạn muốn biến hiện trạng thành con số trước đã, hãy liên hệ với chúng tôi qua trang liên hệ.
Thông tin tham khảo
- Daiko XTECH — Bán thành phẩm là gì, tầm quan trọng của quản lý và nâng cao hiệu quả bằng hệ thống quản lý sản xuất, chuyên mục quản lý sản xuất của daiko+
- IPROS — Bốn vấn đề để hiểu về việc giảm tồn kho bán thành phẩm, bài giải thích trong lĩnh vực chế tạo
- MachineMetrics — What is Work in Progress WIP in Manufacturing A Complete Guide, định nghĩa bán thành phẩm và các chỉ số quản lý
- Fabrico — 5 Strategies to Reduce Work in Process WIP in Manufacturing, phiếu hiện vật giấy và giới hạn của trực quan hóa
- SmartMat Cloud — Hệ thống trực quan hóa nhà máy, các loại hệ thống chính, cách lựa chọn và ví dụ triển khai, số hóa bằng cảm biến IoT
- Factory Advance — Quản lý giá thành theo thời gian thực trong ngành chế tạo, cách biết lợi nhuận hiện tại mà không cần chờ quyết toán tháng, nhập kết quả bằng mã QR và mã vạch
- Biznet — Bí quyết rút ngắn lead time cho ngành chế tạo và những điểm cần lưu ý, giảm tồn kho bán thành phẩm và dòng tiền
- ISDI Imaoka System Dynamics Institute — Vì sao ngành chế tạo cần rút ngắn lead time và cách tính thời gian tồn kho, rút ngắn lead time và lợi nhuận doanh nghiệp
- Allied Corporation — Toàn cảnh môi trường lao động Thái Lan 2026, chiến lược thu hút nhân lực trình độ cao và chuyển đổi số, nguồn cung lao động và thiếu hụt lao động lành nghề