Trong một cuộc họp nội bộ, có người nêu ý kiến rằng công ty mình cũng nên thử dùng AI tạo sinh. Trên báo chí, cụm từ này xuất hiện gần như mỗi ngày. Vậy mà khi phải giải thích cho người khác hiểu AI tạo sinh rốt cuộc là gì và khác gì so với các loại AI đã có trước đây, không nhiều người thực sự tự tin. Tại các chi nhánh Thái Lan của doanh nghiệp sản xuất Nhật Bản, không ít người vẫn đang dừng lại đúng ở giai đoạn này. Bài viết dành cho những ai đang muốn xác định lại ý nghĩa của khái niệm, được sắp xếp lần lượt theo định nghĩa, những việc AI tạo sinh làm được, cách doanh nghiệp đang sử dụng, tình hình tại Thái Lan và cách bắt đầu.
AI tạo sinh là gì – loại AI tạo ra cái mới từ dữ liệu đã học
Trước hết hãy bắt đầu từ định nghĩa. Nắm chắc phần này thì toàn bộ nội dung phía sau sẽ nối được với nhau.
Định nghĩa của AI tạo sinh là “AI tạo ra nội dung mới”
AI tạo sinh (Generative AI) là tên gọi chung cho những hệ thống AI học từ một lượng dữ liệu rất lớn, rồi dựa trên các quy luật đọc được từ đó để tạo ra nội dung mới như văn bản, hình ảnh, âm thanh hay mã chương trình.
Điểm quan trọng nằm ở hai chữ “tạo ra”. Thứ mà AI tạo sinh đưa ra không phải là câu chữ được tìm kiếm rồi lấy nguyên xi từ kho dữ liệu đã học. Trong quá trình học, mô hình hình thành những quy luật kiểu như “trong ngữ cảnh này thì từ tiếp theo thường là từ nào” hay “với chỉ dẫn này thì bố cục thường trông ra sao”, và kết quả đầu ra là thứ được lắp ghép mới ngay tại thời điểm đó. Chính vì vậy, cùng một chỉ dẫn nhưng chưa chắc lần nào cũng nhận lại đúng một câu trả lời giống hệt, và ngược lại, mô hình có thể viết ra những câu không hề tồn tại ở bất kỳ đâu trong dữ liệu học.
Đặc tính này cũng chính là nguyên nhân của hiện tượng ảo giác (hallucination) sẽ được nói tới ở phần sau, tức là việc mô hình đưa ra nội dung nghe rất hợp lý nhưng lại sai. Nếu hiểu rằng AI tạo sinh không phải “cỗ máy đi tìm câu trả lời đúng” mà là “cỗ máy lắp ghép phần tiếp theo nghe có vẻ hợp lý”, bạn sẽ nhìn ra cả chỗ nên dùng lẫn chỗ cần cẩn trọng.
AI truyền thống sinh ra để “phán đoán và phân loại”
Ở hiện trường sản xuất, AI đã được sử dụng từ rất lâu trước khi AI tạo sinh trở thành chủ đề nóng. Phân biệt sản phẩm đạt và không đạt trong kiểm tra ngoại quan, phát hiện dấu hiệu bất thường từ dữ liệu rung động của thiết bị, dự báo nhu cầu tháng sau từ số liệu đơn hàng trong quá khứ. Những loại AI phục vụ các mục đích như vậy thường được gọi là AI phân loại (AI nhận dạng) hoặc AI dự đoán.
Công việc của AI phân loại là trả về một “nhãn” hoặc một “con số” ứng với dữ liệu đầu vào. Đưa vào một tấm ảnh thì nhận lại kết quả đạt hay không đạt. Đưa vào dữ liệu cảm biến thì nhận lại điểm số thể hiện mức độ bất thường. Các lựa chọn đầu ra đã được thiết kế sẵn trong một phạm vi nhất định, và những gì nằm ngoài phạm vi đó sẽ không bao giờ xuất hiện.
AI tạo sinh khác hẳn ở chính điểm này. Thứ trả về không phải nhãn hay con số, mà là nội dung có ruột, chẳng hạn một đoạn văn hay một tấm hình. Hình dạng của đầu ra không được ấn định trước, và tùy cách ra chỉ dẫn mà nó có thể trở thành biên bản họp, bản nháp email hay tài liệu hướng dẫn thao tác.
Nói cách khác, AI phân loại là “AI trả lời một câu hỏi đã được định sẵn”, còn AI tạo sinh là “AI mà chính hình dạng câu trả lời cũng thay đổi theo cách bạn đặt câu hỏi”. Ngay cả những nhà máy đã triển khai AI phân loại vẫn nên xem xét AI tạo sinh như một công cụ hoàn toàn khác.
RPA chỉ “lặp lại các bước đã định” và không phải là AI
Một khái niệm nữa hay bị lẫn lộn là RPA (tự động hóa quy trình bằng robot). RPA là công cụ tự động lặp lại đúng theo kịch bản đã ghi sẵn những thao tác định kỳ mà con người vẫn làm trên máy tính, ví dụ tải danh sách đơn hàng từ hệ thống lõi, chép sang Excel rồi gửi email tới một địa chỉ cố định.
Điểm mạnh của RPA là lặp lại các bước đã định một cách chính xác từng ly, không mệt mỏi và với tốc độ cao. Nói ngược lại, nó hoàn toàn không làm được những gì không có trong kịch bản. Chỉ cần bố cục màn hình nguồn thay đổi là quy trình dừng lại, và nó cũng không thể đưa ra nhận định kiểu “đơn hàng này nội dung có vẻ bất thường, nên kiểm tra lại”. RPA không có khái niệm học, nên nói cho chặt chẽ thì nó không phải là AI.
Sở trường của AI tạo sinh lại nằm đúng ở vùng mà RPA yếu. Những việc mà mỗi lần một nội dung khác nhau, không thể viết thành quy trình cố định, nhưng nếu để người làm thì tốn nhiều thời gian. Tóm tắt biên bản họp, soạn nháp email trả lời khách hàng, dựng khung sơ bộ cho tài liệu đặc tả là các ví dụ điển hình.
Bước ngoặt phổ biến hóa là khi có thể ra lệnh bằng ngôn ngữ đời thường
Công nghệ đứng sau AI tạo sinh đã được nghiên cứu từ trước đó khá lâu, nhưng lý do khiến việc sử dụng trong doanh nghiệp lan rộng nhanh chóng là vì người dùng có thể ra chỉ dẫn bằng chính thứ tiếng mình nói hằng ngày.
Muốn đưa AI phân loại vào công việc, doanh nghiệp phải thu thập dữ liệu học, gán nhãn, xây dựng mô hình rồi tích hợp vào hệ thống. Đương nhiên việc đó đòi hỏi nhân sự chuyên môn và một khoảng thời gian tương xứng. Trong khi đó, AI tạo sinh ngày nay chỉ cần gõ vào ô nhập trên trình duyệt một câu như “hãy tóm tắt biên bản họp này trong 300 chữ, tách riêng phần đã quyết và phần còn tồn” là chạy được. Không cần kiến thức lập trình, cũng không cần công đoạn xây dựng mô hình.
Chính tính chất “ai cũng chạm được” này đã tạo ra tình huống công cụ được dùng từ hiện trường mà không đi qua bộ phận hệ thống thông tin. Cấu trúc dễ lan rộng trước cả khi công ty kịp chốt phương châm chung liên quan trực tiếp tới chủ đề xây dựng quy định nội bộ được bàn ở phần sau.

AI tạo sinh làm được những gì – sắp xếp thành 5 nhóm
Nếu liệt kê “những việc AI tạo sinh làm được” thì sẽ không có điểm dừng, nhưng nhìn từ góc độ nghiệp vụ doanh nghiệp, có thể gom lại thành 5 nhóm lớn.
Nhóm 1 – soạn thảo, tóm tắt và hiệu đính văn bản
Đây là mảng được dùng nhiều nhất. Chuyển văn bản gỡ băng từ ghi âm cuộc họp thành biên bản đúng khuôn, rút gọn một báo cáo dài chỉ còn các ý chính, dựng bản nháp email trả lời khách hàng, hay nhờ chỉ ra lỗi chính tả và những chỗ diễn đạt lặp trong bài mình vừa viết đều thuộc nhóm này.
Tại các doanh nghiệp Nhật Bản ở Thái Lan, tài liệu thường trộn lẫn tiếng Nhật, tiếng Anh và tiếng Thái, nên nhóm này ngày càng hay được dùng kèm với dịch thuật. Tuy nhiên, cách vận hành phổ biến là không đưa thẳng kết quả dịch ra bên ngoài, mà chỉ dùng như bản dịch thô để nắm nội dung, còn khâu kiểm tra cuối cùng vẫn do con người đảm nhiệm.
Nhóm 2 – tạo hình ảnh và biểu đồ
Đây là các ứng dụng như tạo hình từ câu mô tả, thay thế một phần của ảnh sẵn có, hoặc dựng bản nháp cho một sơ đồ minh họa đơn giản. Trong ngành sản xuất, chúng được dùng cho hình minh họa trong tài liệu nội bộ, hình giải thích phục vụ đào tạo, hay ảnh tạo cảm giác cho trang giới thiệu sản phẩm.
Mặt khác, chúng không thể thay thế ảnh chụp sản phẩm thật hay bản vẽ kỹ thuật. Hình do AI tạo sinh dựng ra chỉ là thứ “trông có vẻ đúng”, còn độ chính xác về kích thước hay thông số thì không được bảo đảm.
Nhóm 3 – sinh mã chương trình
Đây là các ứng dụng như mô tả yêu cầu bằng lời để nhận lại bản nháp mã nguồn, nhờ giải thích ý nghĩa của đoạn mã sẵn có, hoặc nhờ suy đoán nguyên nhân của một lỗi. Đây là mảng dễ thấy hiệu quả với bộ phận hệ thống thông tin và với cả những người phụ trách quản lý sản xuất vẫn tự viết macro Excel.
Tuy vậy, nên tránh đưa thẳng mã do AI sinh ra vào hệ thống chạy thật. Có thể xảy ra chuyện đoạn mã trông như chạy được nhưng thiếu xử lý ngoại lệ, hoặc chưa cân nhắc đủ về bảo mật. Hãy coi đây là công cụ dùng với tiền đề có người rà soát lại.
Nhóm 4 – đối thoại, tức chatbot và hỗ trợ hỏi đáp nội bộ
Đây là cách dùng nạp trước quy định nội bộ và tài liệu hướng dẫn thao tác, rồi để hệ thống trả lời câu hỏi của nhân viên. Nó phù hợp với những câu hỏi mà đáp án có nằm đâu đó trong tài liệu nhưng tìm thì rất mất công, kiểu như hạn nộp đơn xin nghỉ phép là bao giờ, hay quy trình kiểm tra đầu ca của thiết bị này gồm những bước nào.
Ở các chi nhánh đa ngôn ngữ, có thể dựng cơ chế hỏi bằng tiếng Thái thì nhận câu trả lời bằng tiếng Thái, nên còn có hiệu quả phụ là giúp nhân viên người Thái dễ tra cứu các quy định nội bộ vốn được viết bằng tiếng Nhật.
Nhóm 5 – hỗ trợ phân tích dữ liệu
Đây là các ứng dụng như nạp dữ liệu dạng bảng để nhờ diễn giải xu hướng, nhờ gợi ý các góc nhìn phân tích, hoặc nhờ viết đoạn thuyết minh cho biểu đồ. Thay vì giao trọn phần phân tích, cách dùng thực tế là hỗ trợ để người phụ trách phân tích làm nhanh hơn.
Ở những tình huống đòi hỏi độ chính xác về số liệu, cách phân vai an toàn là không để AI tạo sinh tính toán, mà để hệ thống sẵn có hoặc Excel tính, còn AI tạo sinh chỉ viết phần diễn giải kết quả.
Thực tế doanh nghiệp đang tập trung vào 3 mục đích hàng đầu
Dù đã liệt kê 5 nhóm, việc sử dụng thực tế lại nghiêng hẳn về một số mục đích nhất định. Theo “Khảo sát xu hướng doanh nghiệp về AI tạo sinh, tháng 3 năm 2026” do Teikoku Databank công bố ngày 14 tháng 5 năm 2026, các mục đích sử dụng tại những doanh nghiệp Nhật Bản đang ứng dụng AI tạo sinh như sau.
| Mục đích sử dụng | Tỷ lệ trả lời |
|---|---|
| Soạn thảo, tóm tắt và hiệu đính văn bản | 45% |
| Thu thập thông tin | 22% |
| Nghĩ ý tưởng khi lập kế hoạch | 11% |
Khảo sát này lấy đối tượng là các doanh nghiệp trong nội địa Nhật Bản, với 10,312 phiếu trả lời hợp lệ. Nhìn vào con số có thể thấy mục đích nhiều nhất là soạn thảo, tóm tắt và hiệu đính văn bản với 45%, vượt trội hẳn và cách mục đích đứng thứ hai là thu thập thông tin ở mức 22% tới hơn 2 lần. Nếu chỉ xét riêng doanh nghiệp lớn, tỷ lệ của nhóm soạn thảo, tóm tắt và hiệu đính văn bản còn nhích lên mức 46.5% đến 47.8%, cao hơn mặt bằng chung.
Nói cách khác, thứ đang thực sự tạo ra kết quả trong doanh nghiệp không phải những cách dùng hào nhoáng, mà là cách dùng giúp giảm tải cho công việc giấy tờ hằng ngày. Nếu còn phân vân nên đặt bước đầu tiên ở đâu, phân bố này là một manh mối đáng tin.

Vì sao việc ứng dụng AI tạo sinh trong doanh nghiệp bùng lên vào năm 2026
Bản thân cụm từ AI tạo sinh đã lưu hành vài năm nay, nhưng xét ở góc độ sử dụng thực tế trong doanh nghiệp thì năm 2026 là một cột mốc. Hãy cùng kiểm chứng bằng con số.
Tỷ lệ ứng dụng của doanh nghiệp trong nước là 34.5%
Khảo sát của Teikoku Databank nói trên được thực hiện trong khoảng thời gian từ ngày 17 đến ngày 31 tháng 3 năm 2026, với khoảng 23,349 doanh nghiệp thuộc diện khảo sát, 10,312 phiếu trả lời hợp lệ và tỷ lệ hồi đáp 44.2%. Trong khảo sát này, tỷ lệ doanh nghiệp trả lời rằng mình “có ứng dụng” AI tạo sinh là 34.5%. Chi tiết gồm 4.4% trả lời “ứng dụng rất nhiều” và 30.2% trả lời “có ứng dụng ở mức độ nhất định”.
Cách đọc con số 34.5% cần thận trọng. Có thể hiểu là “cứ 3 doanh nghiệp mới có 1 đơn vị dùng”, mà cũng có thể hiểu là “cứ 3 doanh nghiệp thì đã có 1 đơn vị dùng rồi”. Tuy nhiên, đứng ở vị trí người đang cân nhắc trong nội bộ, cách đọc thứ hai mới là cách có ý nghĩa. Nếu cứ 3 doanh nghiệp cùng ngành thì đã có 1 đơn vị dùng dưới hình thức nào đó, thì chính quyết định “chờ xem tình hình” đã là một sự chậm chân tương đối.
87% doanh nghiệp đang ứng dụng cảm nhận được hiệu quả
Cũng trong khảo sát đó, 87% doanh nghiệp đang ứng dụng AI tạo sinh trả lời rằng họ cảm nhận được hiệu quả ở mức độ nào đó. Con số này từng được báo chí đưa tin với tiêu đề rằng 90% doanh nghiệp ứng dụng AI tạo sinh cảm nhận được hiệu quả.
Về cách diễn giải con số cao như 87%, điều cần lưu ý là nó không có nghĩa “cứ triển khai AI tạo sinh thì 90% khả năng sẽ có hiệu quả”. Tổng thể mẫu ở đây là “các doanh nghiệp đang ứng dụng”, tức không bao gồm những đơn vị đã triển khai nhưng rồi bỏ không dùng, hay những đơn vị bỏ cuộc ngay ở giai đoạn cân nhắc. Cách đọc hợp lý chỉ dừng ở mức “tại những doanh nghiệp dùng được lâu dài thì họ cảm nhận được hiệu quả”.
Dù vậy, con số này vẫn có hàm ý. Chỉ cần đưa được việc sử dụng về một hình thái duy trì được lâu dài thì khả năng cảm nhận được hiệu quả là khá cao. Nói ngược lại, chỗ quyết định thắng thua không nằm ở bản thân công nghệ, mà nằm ở việc “làm sao để dùng được lâu dài”.
Trọng tâm bàn luận đã chuyển từ “có triển khai không” sang “dùng sao cho thạo”
Tổ hợp tỷ lệ ứng dụng 34.5% và 87% doanh nghiệp ứng dụng cảm nhận được hiệu quả cho thấy mối quan tâm của doanh nghiệp năm 2026 đang nằm ở đâu. Vài năm trước, câu hỏi trung tâm còn mang tính kỹ thuật, kiểu như liệu AI tạo sinh có thực sự dùng được trong công việc hay không. Hiện tại, chuyện dùng được đã trở thành tiền đề, và trọng tâm chuyển sang câu hỏi vận hành là dùng cho nghiệp vụ nào, ai dùng và dùng theo quy định nào.
Như đã nhắc ở phần trước, tại doanh nghiệp lớn, tỷ lệ dùng cho soạn thảo, tóm tắt và hiệu đính văn bản ở mức 46.5% đến 47.8%, cao hơn mặt bằng chung. Có thể hiểu rằng quy mô càng lớn thì cách dùng càng định hình rõ quanh một mục đích cụ thể là công việc văn bản.
Với những doanh nghiệp mới bắt đầu cân nhắc, thay đổi này lại là điều thuận lợi. Bởi thông tin về việc các đơn vị đi trước đã vấp ở đâu nay đã được chia sẻ rộng rãi, giúp tránh lặp lại cùng một sai lầm.
Việc ứng dụng AI tạo sinh tại Thái Lan và ASEAN đã đi tới đâu
Tới đây đều là số liệu trong nội địa Nhật Bản. Với những người đang làm việc tại chi nhánh Thái Lan, tình hình sở tại có lẽ mới là điều sát sườn hơn.
Hơn 70% tổ chức tại Thái Lan đã triển khai hoặc đang lên kế hoạch triển khai
Theo báo cáo khu vực Đông Nam Á do Tổ chức Xúc tiến Đầu tư Nhật – Trung công bố ngày 2 tháng 4 năm 2026, hơn 70% tổ chức tại Thái Lan đã triển khai hoặc đang lên kế hoạch triển khai AI tạo sinh nhằm mục tiêu nâng cao hiệu quả và tăng doanh thu.
Ở đây cần xác nhận một điểm về cách xử lý số liệu. Con số 34.5% của Teikoku Databank nêu ở phần trước là khảo sát với đối tượng là doanh nghiệp trong nội địa Nhật Bản, còn con số hơn 70% này đến từ một báo cáo lấy đối tượng là các tổ chức tại Thái Lan nói chung. Chủ thể khảo sát, tổng thể mẫu và định nghĩa đều khác nhau, nên không thể so sánh kiểu “Thái Lan đi trước Nhật Bản gấp đôi”. Khi trích dẫn vào tài liệu nội bộ, nhất định phải ghi kèm đó là con số của khảo sát nào và trên tổng thể mẫu nào.
Thứ đáng đọc ra không phải tỷ số so sánh, mà là xu hướng cho thấy tại Thái Lan, việc triển khai AI tạo sinh cũng đã không còn là một nỗ lực mang tính ngoại lệ.
Ví dụ 1 – ứng dụng trong lĩnh vực marketing
Một trong những ví dụ cụ thể mà báo cáo này giới thiệu là chiến dịch live commerce của AnyMind Group cho thương hiệu nước uống Evian. Việc đưa avatar AI vào các buổi phát trực tiếp được cho là đã giúp cắt giảm 90% chi phí phát sóng, đồng thời nâng doanh số lên hơn 3.5 lần so với trước.
Điểm đáng chú ý của ví dụ này là việc giảm chi phí và tăng doanh thu diễn ra đồng thời. Có thể hiểu rằng khi thay thế các buổi phát vốn do người vận hành bằng avatar AI, những ràng buộc về số buổi phát và khung giờ được gỡ bỏ, nhờ đó cơ hội tiếp xúc với khách hàng cũng tăng lên. Đây là ví dụ cho thấy hiệu quả của AI tạo sinh không chỉ hiện ra ở dạng “làm cùng một việc với chi phí rẻ hơn”, mà còn ở dạng “làm được những việc trước đây không thể làm nổi về mặt số lượng”.
Ví dụ 2 – ứng dụng trong lĩnh vực tài chính
Ngân hàng SCB được cho là đã rút ngắn thời gian xử lý nghiệp vụ thẩm định khoản vay, chương trình có tên Manee Tan Jai, xuống còn dưới 10 phút.
Thẩm định là nghiệp vụ chồng chất các bước xử lý có kèm phán đoán, gồm kiểm tra nội dung hồ sơ, đối chiếu giấy tờ cần thiết và so khớp với thông tin quá khứ. Nếu có thể trình bày sẵn các thông tin mà người phụ trách cần đọc dưới dạng đã được sắp xếp, họ sẽ dành được thời gian cho chính việc phán đoán. Vì phải xử lý những thông tin không thống nhất về định dạng lẫn nội dung, đây là ví dụ điển hình cho loại nghiệp vụ mà RPA không kham nổi.
Ví dụ 3 – ứng dụng trong lĩnh vực hành chính hậu cần
Ủy ban Pháp chế Thái Lan (OCS) được cho là đã hoàn tất trong 6 tháng khối lượng công việc dịch thuật vốn được dự tính phải mất từ 7 đến 10 năm.
Đây có lẽ là ví dụ dễ hình dung nhất đối với khối quản lý của doanh nghiệp sản xuất. Việc dịch văn bản pháp quy có đặc điểm là khối lượng khổng lồ, đòi hỏi thống nhất thuật ngữ, nhưng độ khó phán đoán của từng đầu việc lại không quá cao. Chính vì đây là loại công việc mà sức người bị nghẽn thuần túy vì khối lượng, nên mới dẫn tới mức rút ngắn khác hẳn về độ lớn.
Nếu chi nhánh của bạn đang gánh công việc triển khai các tài liệu tiếng Nhật như quy định nội bộ, tài liệu tiêu chuẩn thao tác hay sổ tay chất lượng sang tiếng Thái và tiếng Anh, rất có thể cùng một cấu trúc vấn đề đang lặp lại ở đó.
Cần nắm cả những vấn đề đang được nêu ra tại sở tại
Cũng báo cáo trên nêu ba vấn đề chính trong việc ứng dụng AI tạo sinh tại Thái Lan, gồm việc đáp ứng PDPA tức luật bảo vệ dữ liệu cá nhân của Thái Lan, sự cân nhắc về yếu tố văn hóa, và phòng ngừa hiện tượng ảo giác của AI.
Đặc biệt, việc đáp ứng PDPA là chủ đề không thể né tránh với doanh nghiệp đặt cơ sở tại Thái Lan. Hành vi đưa dữ liệu có chứa thông tin nhân viên hoặc thông tin khách hàng vào một dịch vụ bên ngoài được phép tới phạm vi nào. Đây không phải vấn đề kỹ thuật, mà là vấn đề của quy định nội bộ và điều khoản hợp đồng.
Báo cáo cũng đưa ra ba bước để thành công, theo thứ tự triển khai thử nghiệm quy mô nhỏ trên một bài toán cụ thể, kết nối hệ thống và bản địa hóa, rồi triển khai toàn công ty kèm cải tiến liên tục. Việc không lao thẳng vào triển khai toàn công ty ngay từ đầu liên quan trực tiếp tới phần bàn về chuyện bắt đầu từ đâu ở dưới đây.

Sắp xếp khác biệt giữa AI tạo sinh, AI truyền thống và RPA bằng bảng
Sau đây là phần sắp xếp khác biệt giữa ba đối tượng đã trình bày, đặt trên cùng một hệ trục. Bảng này được viết ở dạng có thể dùng nguyên khi giải thích trong nội bộ.
| Góc nhìn | RPA | AI truyền thống (phân loại và dự đoán) | AI tạo sinh |
|---|---|---|---|
| Vai trò trung tâm | Lặp lại các bước đã định | Phán đoán, phân loại, dự đoán | Tạo ra nội dung mới |
| Có học hay không | Không học | Xây mô hình từ dữ liệu học | Đã học từ lượng dữ liệu lớn |
| Đầu vào | Định nghĩa các bước thao tác | Hình ảnh, giá trị cảm biến, số liệu thực tế | Chỉ dẫn bằng lời |
| Đầu ra | Kết quả thực thi công việc định kỳ | Nhãn, điểm số, giá trị dự báo | Văn bản, hình ảnh, mã, câu trả lời |
| Việc làm tốt | Công việc lặp cùng một quy trình | Phát hiện dấu hiệu từ dữ liệu lớn | Công việc trí óc mỗi lần một nội dung |
| Việc làm kém | Ngoại lệ và thay đổi bố cục | Các mẫu nằm ngoài dự kiến | Tính toán chính xác, bảo đảm sự thật |
| Gánh nặng chính khi triển khai | Rà soát và bảo trì quy trình | Thu thập dữ liệu và xây mô hình | Quy định nội bộ và duy trì thói quen dùng |
Ba công cụ này không cạnh tranh nhau, chúng chỉ khác nhau về tính chất của công việc mà chúng đảm nhiệm. Ở hiện trường thực tế, chúng cùng tồn tại theo kiểu AI phân loại lo khâu kiểm tra, RPA lo khâu chép số liệu kết quả, còn AI tạo sinh lo bản nháp báo cáo hành động khắc phục.
Từ đó, bảng dưới đây sắp xếp xem với từng công việc quen thuộc thì công cụ nào là phù hợp.
| Ví dụ công việc | Công cụ phù hợp | Lý do |
|---|---|---|
| Chép danh sách đơn hàng từ hệ thống lõi | RPA | Quy trình cố định và không cần phán đoán |
| Phân biệt sản phẩm đạt và không đạt khi kiểm tra ngoại quan | AI truyền thống | Công việc phân loại dấu hiệu từ lượng ảnh lớn |
| Phát hiện dấu hiệu bất thường của thiết bị | AI truyền thống | Công việc xử lý xu hướng của dữ liệu cảm biến |
| Lập và tóm tắt biên bản cuộc họp | AI tạo sinh | Mỗi lần một nội dung khác, không quy trình hóa được |
| Soạn nháp thông báo nội bộ bằng tiếng Thái | AI tạo sinh | Công việc lắp ghép câu chữ mới |
| Trả lời thắc mắc liên quan tới quy định nội bộ | AI tạo sinh | Công việc đọc tài liệu rồi trả lời |
| Tổng hợp số liệu thực tế hằng tháng | Hệ thống sẵn có và Excel | Độ chính xác của con số được ưu tiên cao nhất |
Dòng cuối cùng được đưa vào bảng là có lý do. AI tạo sinh không giỏi tính toán. Những xử lý mà “đáp án chỉ có một và sai là không chấp nhận được”, như tổng hợp số liệu hay tính giá thành, thì giao cho hệ thống theo cách cũ mới là lựa chọn đúng.
Nên bắt đầu với AI tạo sinh từ đâu
Phần này dành cho những ai đọc tới đây và đang nghĩ vậy thì công ty mình cần làm gì, với một bức tranh tổng thể về cách tiến hành thông thường.
Thứ tự là thử ở quy mô nhỏ, tăng số người dùng được, rồi tự vận hành nội bộ
Thứ tự mà phần lớn doanh nghiệp đi qua gồm ba giai đoạn sau.
Giai đoạn thứ nhất là thử ở quy mô nhỏ. Hãy khoanh vào một nghiệp vụ cụ thể của một bộ phận cụ thể và dùng thử luôn một dịch vụ có sẵn. Việc thử nghiệm quy mô nhỏ như vậy để xác nhận hiệu quả và vấn đề trước khi triển khai chính thức thường được gọi là PoC, tức thử nghiệm khái niệm. Đây chính là bước đầu tiên trong ba bước mà báo cáo của Tổ chức Xúc tiến Đầu tư Nhật – Trung đưa ra, tức triển khai thử nghiệm quy mô nhỏ trên một bài toán cụ thể. Mục tiêu ở đây không phải tạo ra hiệu quả, mà là biết được điều gì sẽ trở thành rào cản khi áp vào nghiệp vụ của chính công ty mình. Cách xử lý thông tin mật, việc kết nối với hệ thống sẵn có, mức độ tiếp nhận của hiện trường. Luôn có những rào cản mà không bắt tay làm thì không thể biết.
Giai đoạn thứ hai là tăng số người dùng được. Kết quả thử nghiệm dù tốt tới đâu, nếu chỉ vài người ở bộ phận hệ thống thông tin dùng được thì công việc vẫn không thay đổi. Đây là lúc cần tới đào tạo và triển khai trong nội bộ. Con số 87% doanh nghiệp ứng dụng cảm nhận được hiệu quả trong khảo sát của Teikoku Databank nêu ở phần trước, nói ngược lại, chính là câu chuyện của “những doanh nghiệp đã đưa được việc sử dụng tới trạng thái duy trì lâu dài”.
Giai đoạn thứ ba là tự vận hành nội bộ. Thay vì mỗi lần lại nhờ bên ngoài, doanh nghiệp hướng tới trạng thái tự điều chỉnh được cấu hình và cách vận hành theo biến động của công việc.
Cách tiến hành cụ thể và chi phí được trình bày ở bài viết riêng
Nội dung trên chỉ là bức tranh tổng thể. Khi đã bước vào giai đoạn cân nhắc cụ thể như bắt tay từ nghiệp vụ nào, dành bao nhiêu thời gian và chi phí cho PoC, hay đặt tiêu chí quyết định triển khai chính thức ra sao, bạn có thể xem bài viết Cách triển khai AI tạo sinh và chi phí để nắm cách tiến hành và cách tư duy chi phí theo từng công đoạn. Bài viết hiện tại nhắm tới giai đoạn phía trước đó, tức giai đoạn xác nhận AI tạo sinh là gì, nên không đi sâu vào chi tiết chi phí.
Có những lựa chọn nào về nơi tư vấn và cách tiến hành
Nếu cảm thấy khó tự mình xoay xở, doanh nghiệp có lựa chọn tìm tới bên ngoài để tư vấn. Ở đây chỉ xin nhắc ngắn gọn rằng các lựa chọn đó có tồn tại.
Nơi tư vấn có thể chia thành vài kiểu, gồm bên tư vấn cùng ngồi lại sắp xếp bài toán từ đầu, công ty phát triển đảm nhiệm phần xây dựng sau khi yêu cầu đã chốt, đầu mối của nền tảng đám mây mà công ty đang dùng, và bên hỗ trợ nội bộ hóa nhằm đào tạo nhân sự của chính doanh nghiệp. Không có kiểu nào là ưu việt tuyệt đối, đối tác phù hợp thay đổi tùy theo doanh nghiệp đang ở giai đoạn nào. Việc tìm tới công ty phát triển khi yêu cầu còn chưa định hình rồi hai bên nói chuyện lệch nhau là một kiểu vấp rất điển hình.
Sau khi đã khoanh được danh sách ứng viên, những điểm cần soi trong điều khoản hợp đồng và báo giá được bàn tới trong bài viết Cách chọn công ty phát triển AI (điểm mấu chốt về hợp đồng và báo giá). Hãy xem lại khi đã tiến gần tới bước đặt hàng.
Một lựa chọn khác là đào tạo. Đây là hướng đi lấy mục tiêu để chính nhân sự của công ty dùng được, thay vì nhờ bên ngoài làm hộ, và rất hợp với giai đoạn thứ hai nói trên. Tuy nhiên, đào tạo không phải cứ tổ chức là sẽ bám rễ. Nguyên nhân khiến việc sử dụng nguội đi sau khi khóa đào tạo kết thúc được sắp xếp trong bài viết 4 nguyên nhân khiến đào tạo AI tạo sinh không bám rễ, nên khi bắt đầu cân nhắc đào tạo, đọc trước sẽ đỡ lãng phí.
Bài viết hiện tại chỉ dừng ở việc chỉ ra rằng các lựa chọn tư vấn đó có tồn tại, không đi vào chi tiết cách chọn. Trước hết, hãy bắt đầu bằng việc kiểm tra xem bài toán của công ty mình đã được diễn đạt thành lời hay chưa.
Xu hướng kế tiếp – từ AI tạo sinh tới tác nhân AI
Sau khi đã nắm chắc về AI tạo sinh, cũng nên chạm nhẹ tới câu chuyện phía sau đó.
AI tạo sinh được trình bày tới đây về cơ bản là công cụ “nhận chỉ dẫn rồi trả lời ngay tại chỗ”. Nhờ tóm tắt thì trả về bản tóm tắt, nhờ viết nháp thì trả về bản nháp. Chỉ dẫn và phản hồi tương ứng một đối một.
Ngược lại, thứ đang thu hút chú ý trong năm 2026 là tác nhân AI. Tác nhân AI chỉ cơ chế mà với một mục tiêu được giao, nó tự phân rã các đầu việc cần thiết, tự quyết thứ tự, rồi vừa thao tác nhiều hệ thống vừa đẩy chính quy trình nghiệp vụ tiến lên. Nó nhắm tới việc đáp ứng những chỉ dẫn trải qua nhiều công đoạn, kiểu như hãy kiểm tra các hồ sơ chưa xử lý trong tuần này, sắp xếp những hồ sơ sắp tới hạn theo từng người phụ trách rồi soạn nội dung liên hệ, thay vì chỉ đơn thuần là hãy tóm tắt đoạn văn này.
Nếu AI tạo sinh là “công cụ giúp việc”, thì tác nhân AI đang tiến dần về phía “một chủ thể gánh một phần của quy trình nghiệp vụ”. Tuy nhiên, phạm vi giao phó càng rộng thì ảnh hưởng của một phán đoán sai tới công việc cũng càng lớn, nên việc thiết kế xem cho tự động tới đâu và chốt chặn kiểm tra của con người ở đâu trở nên rất quan trọng.
Vị trí hiện tại của công nghệ này và khả năng áp dụng cụ thể trong ngành sản xuất được trình bày chi tiết ở bài viết Xu hướng mới nhất của tác nhân AI 2026. Bài viết hiện tại chỉ dừng ở việc xác nhận rằng dòng chảy này nằm trên đường kéo dài của AI tạo sinh.
Ba điểm cần biết trước khi triển khai
Sau khi đã liệt kê những điều đáng kỳ vọng, cũng nên sắp xếp lại những chủ đề cần nắm trước khi bắt đầu.
Lưu ý 1 – cách xử lý thông tin mật và thông tin cá nhân
Đây là chủ đề cơ bản nhất. Thông tin nhập vào một dịch vụ bên ngoài sẽ được xử lý ra sao là điều khác nhau tùy dịch vụ và tùy gói hợp đồng. Có nơi cung cấp tùy chọn để nội dung nhập vào không bị dùng cho việc huấn luyện, cũng có nơi không.
Với chi nhánh tại Thái Lan, cần cân nhắc thêm cả việc đáp ứng PDPA đã nói ở trên. Tài liệu chứa thông tin cá nhân của nhân viên, tài liệu ghi điều kiện giao dịch với khách hàng, thông tin kỹ thuật như bản vẽ hay điều kiện công đoạn. Doanh nghiệp cần quyết định trước khi bắt đầu dùng rằng những thứ này được phép nhập tới đâu.
Điểm xuất phát thực tế là bắt đầu từ một quy tắc đơn giản rằng không nhập thông tin thuộc phân loại mật cao, rồi khi đã thấy rõ nhu cầu thực sự trong công việc thì mới mở rộng phạm vi sau khi đã kiểm tra kỹ điều khoản hợp đồng.
Lưu ý 2 – rủi ro ảo giác, tức đầu ra sai lệch
Như đã nhắc ở đầu bài, AI tạo sinh là cơ chế “lắp ghép phần tiếp theo nghe có vẻ hợp lý”. Vì vậy có thể xảy ra chuyện nó nêu ra một mã tiêu chuẩn không tồn tại, trích dẫn một điều khoản không có thật, hay nhầm lẫn con số. Hơn nữa, những đầu ra đó lại được trình bày đầy tự tin, dưới dạng văn bản chỉn chu về hình thức.
Cách phòng ngừa căn bản là coi đầu ra của AI tạo sinh chỉ như một bản nháp, còn những phần liên quan tới sự thật thì để con người xác nhận lại bằng nguồn thông tin gốc. Đặc biệt với tài liệu gửi ra bên ngoài, các mô tả liên quan tới pháp luật hoặc tiêu chuẩn, và các mô tả có chứa con số, nhất định phải kiểm tra.
Nói ngược lại, ở những tình huống mà “con người đang nắm sẵn thông tin gốc” như tóm tắt hay viết nháp, rủi ro này tương đối nhỏ. Đây cũng là một trong những lý do khiến soạn thảo và tóm tắt văn bản hay được chọn làm nơi áp dụng đầu tiên.
Lưu ý 3 – việc xây quy định nội bộ dễ bị chậm chân
Vì AI tạo sinh ai cũng dùng được, nên hay xảy ra tình huống hiện trường đã bắt đầu dùng trước khi công ty kịp chốt phương châm. Không phải do ai có ý xấu, đơn giản chỉ vì nó tiện nên người ta dùng.
Ở đây, nếu bắt đầu bằng chữ “cấm” thì công cụ sẽ chỉ bị dùng ngầm và việc quản lý còn khó hơn. Cách có hiệu lực thực tế hơn là chốt và ghi thành văn tối thiểu ba điểm, gồm phạm vi nghiệp vụ được phép dùng, loại thông tin không được nhập, và trình tự kiểm tra khi đưa đầu ra vào công việc, sau đó mới thông báo rằng nhân viên được phép dùng.
Quy định không cần hoàn hảo ngay từ đầu. Cập nhật dần theo những thắc mắc thực tế nảy sinh trong giai đoạn thử nghiệm sẽ giúp quy định bám sát thực tế hiện trường hơn.
Bảng tự kiểm – công ty bạn đang ở giai đoạn “biết” hay giai đoạn “thử”
Cuối cùng là các mục giúp xác nhận công ty bạn hiện đang ở giai đoạn nào.
| Mục kiểm tra | Trạng thái nếu đúng |
|---|---|
| Trong công ty có người giải thích được khác biệt giữa AI tạo sinh, AI truyền thống và RPA | Giai đoạn “biết” đã đi qua |
| Trong bộ phận có từ 1 người trở lên từng thực sự dùng AI tạo sinh | Trong công ty đã có người nói được cảm nhận thực tế |
| Nói ra được bằng tên công đoạn cụ thể rằng muốn giảm tải cho nghiệp vụ nào | Đang ở trạng thái chọn được nơi áp dụng |
| Đã chốt ranh giới giữa thông tin được nhập và không được nhập | Tiền đề để thử nghiệm đã sẵn sàng |
| Đã chốt người đánh giá kết quả thử nghiệm và thời hạn đánh giá | Đang ở trạng thái ít khả năng bị đình trệ |
Nếu hai mục đầu chưa đúng thì công ty vẫn đang ở giai đoạn “biết”. Việc cần làm ở giai đoạn này không phải là tìm tư vấn bên ngoài hay chuẩn bị ngân sách, mà trước hết là để vài người thực sự chạm tay vào công cụ. Ngay cả trong phạm vi dùng thử miễn phí, bạn vẫn nắm được cảm giác khi áp nó vào công việc của chính mình.
Khi các mục từ thứ ba trở đi bắt đầu đúng thì công ty đã ở giai đoạn “thử”. Tới được đây nghĩa là bạn đã đủ sẵn sàng để bước vào cân nhắc cách tiến hành cụ thể và chi phí.
Câu hỏi thường gặp
AI tạo sinh là gì?
Đó là tên gọi chung cho các loại AI học từ lượng dữ liệu lớn rồi dựa trên quy luật đó để tạo ra nội dung mới như văn bản, hình ảnh, âm thanh và mã chương trình. Khác với AI truyền thống vốn trả về nhãn hoặc con số như trong phát hiện bất thường hay phân biệt sản phẩm đạt, thứ AI tạo sinh đưa ra là nội dung có ruột. Cơ chế của nó cũng khác với RPA, vốn chỉ lặp lại các bước đã định.
AI tạo sinh làm được những gì?
Trong nghiệp vụ doanh nghiệp, có thể sắp xếp thành 5 nhóm gồm soạn thảo, tóm tắt và hiệu đính văn bản, tạo hình ảnh và biểu đồ, sinh mã chương trình, đối thoại để hỗ trợ hỏi đáp nội bộ, và hỗ trợ phân tích dữ liệu. Việc sử dụng thực tế tập trung vào công việc giấy tờ, và theo khảo sát của Teikoku Databank, trong số doanh nghiệp Nhật Bản đang ứng dụng thì 45% nêu mục đích soạn thảo, tóm tắt và hiệu đính văn bản, tiếp theo là thu thập thông tin với 22% và nghĩ ý tưởng khi lập kế hoạch với 11%.
Việc ứng dụng AI tạo sinh vào công việc đã tiến đến đâu?
Theo khảo sát do Teikoku Databank công bố ngày 14 tháng 5 năm 2026, tỷ lệ ứng dụng AI tạo sinh của doanh nghiệp trong nội địa Nhật Bản là 34.5%. Chi tiết gồm 4.4% trả lời “ứng dụng rất nhiều” và 30.2% trả lời “có ứng dụng ở mức độ nhất định”. Ngoài ra, 87% doanh nghiệp đang ứng dụng trả lời rằng họ cảm nhận được hiệu quả ở mức độ nào đó. Về Thái Lan, báo cáo của Tổ chức Xúc tiến Đầu tư Nhật – Trung cho biết hơn 70% tổ chức đã triển khai hoặc đang lên kế hoạch triển khai, nhưng vì tổng thể mẫu khác nhau nên không thể so sánh trực tiếp với con số của Nhật Bản.
Nên phân biệt AI tạo sinh và RPA như thế nào?
Công việc lặp lại cùng một quy trình mỗi lần thì hợp với RPA, còn công việc trí óc mà nội dung thay đổi mỗi lần và không viết thành quy trình cố định được thì hợp với AI tạo sinh. Cách phân định để tham khảo là chép số liệu định kỳ từ hệ thống lõi giao cho RPA, còn tóm tắt biên bản họp hay soạn nháp thông báo giao cho AI tạo sinh. Riêng những xử lý mà độ chính xác của con số được ưu tiên cao nhất như tổng hợp số liệu hay tính giá thành thì an toàn nhất là không giao cho bên nào, mà để hệ thống sẵn có hoặc Excel đảm nhiệm.
Nên bắt đầu ứng dụng AI tạo sinh vào kinh doanh từ đâu?
Hãy bắt đầu bằng việc thử ở quy mô nhỏ, khoanh vào một nghiệp vụ cụ thể của một bộ phận cụ thể. Báo cáo của Tổ chức Xúc tiến Đầu tư Nhật – Trung cũng đưa ra ba bước gồm triển khai thử nghiệm quy mô nhỏ trên một bài toán cụ thể, kết nối hệ thống và bản địa hóa, rồi triển khai toàn công ty kèm cải tiến liên tục. Nếu nhắm tới triển khai toàn công ty ngay từ đầu, các rào cản như cách xử lý thông tin mật hay mức độ tiếp nhận của hiện trường sẽ bùng lên cùng lúc và dự án rất dễ đứng lại.
Tổng kết
Sau đây là các ý chính của bài viết.
AI tạo sinh là loại AI tạo ra nội dung mới dựa trên các quy luật rút ra từ dữ liệu đã học. Tính chất công việc mà nó đảm nhiệm khác với AI truyền thống vốn phán đoán và phân loại, và cũng khác với RPA vốn lặp lại các bước đã định. Những việc nó làm được có thể sắp xếp thành 5 nhóm gồm văn bản, hình ảnh, mã, đối thoại và hỗ trợ phân tích dữ liệu, nhưng việc sử dụng thực tế trong doanh nghiệp nghiêng hẳn về soạn thảo, tóm tắt và hiệu đính văn bản.
Tại thời điểm năm 2026, khảo sát của Teikoku Databank cho thấy tỷ lệ ứng dụng của doanh nghiệp trong nội địa Nhật Bản là 34.5%, và 87% doanh nghiệp đang ứng dụng cảm nhận được hiệu quả. Tại Thái Lan, báo cáo của Tổ chức Xúc tiến Đầu tư Nhật – Trung cho biết hơn 70% tổ chức đã triển khai hoặc đang lên kế hoạch, với các kết quả cụ thể được ghi nhận trong những lĩnh vực marketing, tài chính và hành chính hậu cần. Trọng tâm bàn luận đã chuyển từ “có triển khai hay không” sang “dùng sao cho thạo”.
Thứ tự bắt đầu gồm ba giai đoạn là thử ở quy mô nhỏ, tăng số người dùng được, rồi tự vận hành nội bộ. Nếu nắm trước ba điểm gồm cách xử lý thông tin mật, sự chuẩn bị cho hiện tượng ảo giác và việc xây quy định nội bộ, bạn sẽ ít phải quay đầu làm lại.
Nếu thấy công ty mình vẫn đang ở giai đoạn “biết”, việc cần làm tiếp theo không phải là một quyết định đầu tư lớn, mà là để vài người thực sự chạm tay vào công cụ.
Ngay cả khi bạn mới chỉ bắt đầu tìm hiểu về AI tạo sinh và chưa hình dung được cụ thể việc áp dụng vào công việc tại chi nhánh Thái Lan thì cũng không sao. TOMAS TECH nhận trao đổi ngay từ khâu sắp xếp xem nên bắt đầu cân nhắc từ nghiệp vụ nào là thực tế nhất, trên tiền đề hiện trường của doanh nghiệp sản xuất Nhật Bản tại Thái Lan. Nếu bạn đang ở giai đoạn muốn nghe thử, hãy liên hệ với chúng tôi qua trang liên hệ.
Tài liệu tham khảo
- Teikoku Databank, Khảo sát xu hướng doanh nghiệp về AI tạo sinh, tháng 3 năm 2026, công bố ngày 14 tháng 5 năm 2026
- Nikkei, bản tin về việc 90% doanh nghiệp ứng dụng AI tạo sinh cảm nhận được hiệu quả
- Tổ chức Xúc tiến Đầu tư Nhật – Trung, báo cáo khu vực Đông Nam Á về AI tạo sinh trong kinh doanh tại Thái Lan, công bố ngày 2 tháng 4 năm 2026