Blog

2026.08.14

Tự động hóa kiểm tra kích thước 2026 – Chọn phương thức và tính hoàn vốn

Tự động hóa kiểm tra kích thước 2026 – Chọn phương thức và tính hoàn vốn

Dung sai trên bản vẽ mỗi năm một siết chặt, trong khi số nhân viên kiểm tra thì không thể tăng thêm. Đây là chủ đề đang được các nhà máy Nhật Bản tại Thái Lan hỏi đến nhiều nhất trong thời gian gần đây. Với những kích thước vốn chỉ xác nhận theo lối lấy mẫu, khách hàng bắt đầu đòi hồ sơ đo của toàn bộ sản phẩm, và các thùng bán thành phẩm chất đống trước cửa phòng đo. Tự động hóa kiểm tra kích thước là khoản đầu tư để gỡ đúng nút thắt đó, nhưng xếp các catalog thiết bị cạnh nhau thì vẫn không ra câu trả lời. Bài viết này sắp xếp lần lượt những dữ kiện cần cho quyết định đặt hàng, gồm khác biệt giữa các phương thức đo, cách xác định yêu cầu độ chính xác, cấu trúc chi phí, và một mô hình tính hoàn vốn đầu tư giả định cho nhà máy gia công kim loại tại Thái Lan.

Kiểm tra kích thước là gì – “đo” chứ không phải “nhìn”

Phán định đạt/không đạt và giá trị đo có mục đích khác nhau

Cùng một cụm từ “tự động hóa kiểm tra”, nhưng cái mà hiện trường muốn nói tới lại chia thành hai nhánh lớn. Một là kiểm tra ngoại quan, tìm ra các bất thường như xước, móp, bẩn hay thiếu chi tiết rồi phân loại hàng đạt và hàng không đạt. Hai là kiểm tra rút ra con số, đường kính lỗ của chi tiết là bao nhiêu milimét, chiều dày tấm là bao nhiêu, khoảng cách tâm giữa hai lỗ là bao nhiêu. Loại thứ nhất chỉ cần cho ra một bit “OK hay NG” là đã đủ, còn loại thứ hai chỉ có ý nghĩa khi cho ra một số thực như “12.043 mm”.

Khác biệt này trông nhỏ ở giai đoạn chọn thiết bị nhưng lại phát tác rất mạnh sau khi đưa vào vận hành. Với phán định đạt/không đạt, độ lệch ánh sáng hay chênh lệch giữa các cá thể ở mức vừa phải đều có thể hấp thụ bằng cách chỉnh ngưỡng phán định. Ngược lại, với đo kích thước thì chính con số cho ra sẽ trở thành tài liệu nộp cho khách hàng, thành căn cứ tính chỉ số năng lực quá trình, và thành cơ sở quyết định có cho quá trình chạy tiếp hay không. Nếu độ tin cậy của con số không được bảo đảm thì dù thiết bị vẫn chạy, phép kiểm tra đó cũng không có giá trị.

Bài viết này khác gì các bài đã đăng trước đó

TOMAS TECH đã từng đăng nhiều bài về kiểm tra và tự động hóa, nhưng đối tượng mà bài này xử lý khác với cả hai bài dưới đây.

Chọn nhà cung cấp thiết bị kiểm tra 2026 — Quyết gì trước khi so sánh là bài về lựa chọn thiết bị với tiền đề là kiểm tra ngoại quan. Bài đó bàn cách văn bản hóa tiêu chuẩn phán định, chọn kiểm tra toàn bộ hay lấy mẫu, và dung hòa ở đâu giữa báo lỗi thừa và bỏ lọt. Đó là bài về phán định, không phải bài về giá trị đo.

Robot lắp ráp tự động 2026 – Yếu tố quyết định là dung sai chi tiết giải thích cấu trúc ba tầng dung sai chồng lên nhau trong lắp ráp bằng robot, tức là độ lặp lại của cánh tay, độ chính xác định vị của đồ gá và độ phân tán kích thước của bản thân chi tiết cùng cộng dồn để quyết định lắp ráp thành công hay thất bại. Kích thước cũng xuất hiện ở đó, nhưng chỉ ở phía kết quả, tức là “có lắp vào được hay không”.

Bài này xử lý đúng một điểm nằm trước đó. Kích thước thực tế của chi tiết là bao nhiêu, đo nó bằng cách nào, và tự động hóa việc đo ra sao. Không phải phán định đạt/không đạt, cũng không phải khả năng lắp ráp, mà tập trung vào việc thiết kế cơ chế thu thập giá trị đo một cách liên tục, mua nó với giá bao nhiêu và hoàn vốn trong mấy năm.

Ba nhóm đại lượng mà kiểm tra kích thước phải xử lý

Khi sắp xếp yêu cầu cho tự động hóa kiểm tra kích thước, việc đầu tiên cần làm là phân loại các đại lượng được chỉ định trên bản vẽ thành ba nhóm.

  • Dung sai kích thước. Đường kính ngoài, đường kính trong, chiều dày tấm, chiều dài tổng, tức các đại lượng được định nghĩa bằng khoảng cách giữa hai điểm. Đây là những hạng mục lâu nay vẫn đo bằng thước cặp và panme, và cũng là vùng có rào cản tự động hóa thấp nhất.
  • Dung sai hình dạng. Độ tròn, độ phẳng, độ thẳng, độ trụ, tức mức lệch của một hình đơn lẻ so với hình lý tưởng. Đo một hoặc hai điểm sẽ không ra giá trị, cần nắm biên dạng dưới dạng mặt hoặc đường.
  • Dung sai hướng, vị trí và độ đảo. Độ song song, độ vuông góc, dung sai vị trí, độ đồng trục, độ đảo hướng kính, tức quan hệ tương đối so với chuẩn đo (datum). Đây là trung tâm của lĩnh vực kiểm tra dung sai GD&T, và cách tái lập chuẩn đo về mặt vật lý sẽ quyết định thành bại của việc tự động hóa.

Nếu bỏ qua bước phân loại này rồi đặt hàng bằng một câu “nhà máy tôi muốn đo tự động toàn bộ kích thước” thì gần như chắc chắn báo giá sẽ vọt lên, hoặc sau khi giao hàng sẽ nghe câu “hạng mục đó máy không đo được”. Trong thực tế, nên giữ cảm nhận rằng phần lớn dung sai kích thước có thể tự động hóa, dung sai hình dạng thì tùy điều kiện, còn dung sai vị trí và độ đồng trục có kèm chuẩn đo thì phụ thuộc vào thiết kế máy đo và đồ gá. Có được cảm nhận đó thì phần định nghĩa yêu cầu sẽ chính xác hơn hẳn.

Tự động hóa kiểm tra kích thước 2026 – Chọn phương thức và tính hoàn vốn - figure 1

Các phương thức tự động hóa kiểm tra kích thước và cách phân vai

Máy đo tọa độ ba chiều (CMM) đặt ngoài chuyền

Máy đo tọa độ ba chiều CMM là loại máy dùng đầu dò di chuyển theo ba trục để lấy tọa độ bề mặt chi tiết, rồi từ đó tính ra kích thước, hình dạng và vị trí. Cách dùng phổ biến là đặt máy trong phòng đo có kiểm soát nhiệt độ ổn định, lấy mẫu chi tiết từ chuyền mang sang đo, và người ta gọi đây là kiểm tra ngoài chuyền.

Điểm mạnh lớn nhất của CMM là bề rộng hạng mục đo được và tính thuyết phục của giá trị đo. Máy bao quát được gần như toàn bộ phần lõi của kiểm tra dung sai GD&T, chẳng hạn thiết lập chuẩn đo để tính dung sai vị trí, hay lấy nhiều đường sinh của hình trụ để tính độ trụ. Vì có thể xuất bảng kết quả đo gắn với chứng chỉ hiệu chuẩn nên hồ sơ này cũng dễ được chấp nhận trong đánh giá của khách hàng và trong giai đoạn sản xuất đầu. Về mặt thị trường, một báo cáo khảo sát đưa tin rằng thị trường máy đo tọa độ ba chiều toàn cầu sẽ mở rộng từ 3.78 tỷ USD năm 2025 lên 8.7 tỷ USD vào năm 2035, với tốc độ tăng trưởng bình quân năm 8.7%, cho thấy nhu cầu vẫn vững. Bản thân con số là dự báo của công ty khảo sát chứ không phải giá trị đã xác định, nhưng vẫn hữu ích để tham chiếu xu hướng.

Điểm yếu là tốc độ và điều kiện lắp đặt. Với một chương trình đo 8 điểm cho mỗi chi tiết, tính cả thời gian chuẩn bị thì mất vài phút là chuyện không hiếm. Nhiệt độ thay đổi thì giá trị đo cũng dịch chuyển nên cần phòng ổn nhiệt, và máy cũng nhạy với rung động nền. Kết quả là cách định vị thực tế nhất cho CMM không phải “thiết bị đo toàn bộ sản phẩm” mà là “thiết bị cung cấp chuẩn tham chiếu”.

Cần nói thêm là những năm gần đây, các nhà sản xuất mà tiêu biểu là Mitutoyo đã mở rộng dải sản phẩm rất rộng, từ máy vận hành tay thông dụng, máy đo tự động CNC, máy dạng cổng cho chi tiết cỡ lớn, cho tới cả các model đặt được ngay cạnh chuyền sản xuất. Vì vậy nếu chỉ dựa vào định kiến “CMM là thiết bị nằm trong phòng đo” để loại bỏ phương thức này thì hiện nay là khá đáng tiếc.

Máy đo bằng hình ảnh đặt trong chuyền

Máy đo bằng hình ảnh sử dụng hệ quang gồm camera, ống kính telecentric và đèn nền để chụp biên dạng chi tiết, phát hiện cạnh rồi tính ra kích thước. Vì không tiếp xúc và chỉ một lần chụp là lấy được đồng thời nhiều kích thước nằm trong trường nhìn, thời gian đo mỗi chi tiết rút xuống còn đơn vị giây. Nếu nhắm tới tự động hóa kiểm tra toàn bộ sản phẩm thì đây là phương thức đầu tiên nên đưa vào danh sách ứng viên.

Về xu hướng thiết bị thị giác máy hướng tới năm 2026, người ta nhắc tới cấu hình dùng camera area scan cỡ 12 megapixel để đạt đồng thời trường nhìn và độ phân giải, cùng với việc tận dụng camera line scan có thể chụp cả trên những chuyền chạy nhanh hơn 800 mét mỗi phút. Dòng chảy phía thiết bị là đo kích thước không tiếp xúc đang trở thành một lựa chọn tiêu chuẩn chứ không còn là giải pháp đặc biệt. Các phương pháp dựa trên học máy cũng đã có thể khởi động với lượng dữ liệu và kiến thức chuyên môn ít hơn trước.

Bản thân các hãng thiết bị cũng đưa năng lực kiểm tra toàn bộ sản phẩm lên hàng đầu. Chẳng hạn hệ thống thị giác đo kích thước 2D của KEYENCE được giới thiệu là đáp ứng kiểm tra 100% sản phẩm ngay trong chuyền, đồng thời cải thiện tốc độ, tính nhất quán và năng suất so với đo bằng tay.

Điểm yếu là về nguyên tắc máy chỉ đo được “biên dạng đã chiếu”. Những thứ như đáy lỗ sâu, mặt sau của bậc, hay khoảng cách theo phương pháp tuyến của một mặt nghiêng đều là điểm yếu, và cũng không thể lấy lại chuẩn đo theo kiểu ba chiều. Nên hiểu rằng dù đã lắp đo bằng hình ảnh trong chuyền thì gần như không có chuyện CMM biến mất hoàn toàn.

Máy quét 3D cầm tay và máy quét ánh sáng cấu trúc

Với những chi tiết mà vấn đề nằm ở chỗ “bề mặt bị biến dạng như thế nào” hơn là ở số điểm kích thước, ví dụ chi tiết tấm kim loại cỡ lớn, cong vênh của sản phẩm nhựa ép, hay kết cấu hàn, thì máy quét 3D cầm tay và máy quét ánh sáng cấu trúc phát huy hiệu quả. Máy lấy được đám mây điểm cỡ vài triệu điểm và xuất ra bản đồ màu thể hiện độ lệch so với mô hình CAD, nhờ đó các cuộc thảo luận về sửa khuôn hay chỉnh điểm tiếp xúc của đồ gá tiến nhanh hơn nhiều.

Mặt khác, khi cần rút ra dung sai kích thước với độ chính xác cao từ đám mây điểm thì loại máy này thường không sánh được với CMM hay máy đo bằng hình ảnh. An toàn nhất là tách bạch “công cụ để nắm xu hướng” với “công cụ để đưa ra căn cứ đạt hay không đạt”.

Dưỡng đo chuyên dụng, cảm biến dịch chuyển laser và đồng hồ đo khí

Nếu chủng loại sản phẩm cố định và chỉ cần đo một hoặc hai kích thước, thì dưỡng đo chuyên dụng nhanh hơn, rẻ hơn và khó hỏng hơn so với máy đo đa dụng. Những cấu hình như xếp vài cảm biến dịch chuyển laser để giám sát chiều dày hoặc độ chênh bậc trên toàn bộ sản phẩm, hay dùng đồng hồ đo khí để đo đường kính trong với độ phân giải cao, có khi giúp số tiền đầu tư nhỏ đi một bậc chữ số. Với những công đoạn ít chuyển đổi chủng loại, đây là hướng nên xem xét trước tiên.

Bảng so sánh các phương thức

Phương thứcPhép đo sở trườngThời gian đo mỗi chi tiếtNơi lắp đặtKiểm tra toàn bộĐáp ứng GD&T
CMM ngoài chuyềnKích thước, hình dạng, vị trí nói chungVài phútPhòng đo ổn nhiệtKhóCao
Đo bằng hình ảnh trong chuyềnKích thước theo biên dạng chiếu, một phần hình dạngVài giâyTrong chuyềnKhả thiHạn chế
Máy quét 3D cầm tayBiến dạng bề mặt, độ lệch so với CADVài phút đến vài chục phútBất kỳ đâuKhóGiá trị tham khảo
Cảm biến laser, dưỡng chuyên dụngMột đến vài điểm xác địnhDưới 1 giâyTrong chuyềnKhả thiNgoài phạm vi
Tự động hóa kiểm tra kích thước 2026 – Chọn phương thức và tính hoàn vốn - figure 2

Xác định yêu cầu độ chính xác – dung sai và năng lực quá trình Cpk

Điểm xuất phát là độ phân giải bằng một phần mười dung sai

Điều đầu tiên phải xác nhận khi chọn thiết bị là độ phân giải và độ không đảm bảo đo của thiết bị có đủ nhỏ so với dung sai trên bản vẽ hay không. Trong giới thiết kế dưỡng đo, từ lâu người ta đã dùng quy tắc 10 trên 1, tức giữ độ phân giải của thiết bị đo ở mức bằng hoặc nhỏ hơn một phần mười bề rộng dung sai. Nếu dung sai là ±0.05 mm, tức bề rộng dung sai 0.1 mm, thì điểm xuất phát là độ phân giải từ 0.01 mm trở xuống.

Tuy nhiên độ phân giải là giá trị trên catalog, khác với độ phân tán đo thực tế. Trong thực hành, người ta chạy phân tích hệ thống đo (MSA) để lấy GR&R, rồi xem độ phân tán gộp cả tính lặp lại và tính tái lập chiếm bao nhiêu phần bề rộng dung sai. Chuẩn vận hành thông dụng là GR&R dưới 10% bề rộng dung sai thì tốt, từ 10% đến 30% thì chấp nhận tùy mục đích, còn vượt quá 30% thì không dùng được. Hãy luôn thực hiện đánh giá này bằng thử nghiệm trên máy thật trước khi đặt hàng. Sự cố kiểu sau khi đưa thiết bị vào mới phát hiện “độ phân tán của thiết bị còn lớn hơn độ phân tán của quá trình” là chuyện đã xảy ra trên thực tế.

Vị trí của năng lực quá trình Cpk và yêu cầu của IATF 16949

Trong giao dịch linh kiện ô tô, chỉ số năng lực quá trình Cpk và bản dài hạn của nó là Ppk xuất hiện như những chỉ tiêu mang tính hợp đồng. IATF 16949 yêu cầu dùng kiểm soát quá trình bằng thống kê (SPC) để phân biệt biến động do nguyên nhân đặc biệt với biến động do nguyên nhân chung, đồng thời dùng biểu đồ kiểm soát và chỉ số năng lực quá trình để đánh giá tính ổn định và năng lực của quá trình.

Ở đây có một hiểu lầm rất phổ biến. Những mức cụ thể kiểu “Cpk từ 1.33 trở lên” hay “Cpk từ 1.67 trở lên” không phải do bản thân IATF 16949 quy định thống nhất. Trên thực tế, chúng thường được chỉ định riêng cho từng khách hàng trong yêu cầu riêng của khách hàng (CSR) hoặc trong sổ tay chất lượng nhà cung cấp (SQM). Vì vậy thứ cần xác nhận trước khi đặt hàng không phải văn bản tiêu chuẩn, mà là tài liệu yêu cầu của chính khách hàng mà công ty bạn đang giao dịch.

Cũng nên nắm ý nghĩa của con số. Cpk là khoảng cách từ giá trị trung bình của quá trình tới giới hạn quy định gần hơn, chia cho ba lần độ lệch chuẩn của quá trình. Cpk 1.33 tương ứng với biên độ dự phòng bằng 4 lần độ lệch chuẩn, và nếu giả định phân bố chuẩn thì tỷ lệ không phù hợp lý thuyết về một phía vào khoảng 30 ppm. Cpk 1.67 tương ứng với biên độ dự phòng bằng 5 lần độ lệch chuẩn, và tỷ lệ không phù hợp lý thuyết một phía xuống dưới 1 ppm. PPM là đơn vị chỉ số lượng sản phẩm lỗi trên một triệu sản phẩm, và được dùng như ngôn ngữ chung về mức chất lượng trong lĩnh vực linh kiện ô tô và linh kiện điện tử.

Muốn duy trì Cpk một cách liên tục thì phải thu thập giá trị đo một cách liên tục. Một công đoạn chỉ đo vài chục chi tiết mỗi tháng theo lối lấy mẫu mà bị yêu cầu “hãy bảo đảm Cpk 1.67” thì ngay từ đầu đã không đủ cỡ mẫu. Chính cấu trúc này là lý do khiến quyết định đầu tư cho tự động hóa kiểm tra kích thước không dừng ở bản thân thiết bị mà phải bao gồm cả cơ chế thu thập dữ liệu.

Kiểm tra dung sai GD&T là chỗ khó nhất của tự động hóa

Với các hạng mục có kèm chuẩn đo như dung sai vị trí hay độ đồng trục, độ chính xác không do tính năng máy đo quyết định mà do thiết kế đồ gá, tức cách giữ mặt chuẩn. Khi cố tái lập chuẩn đo bằng đo hình ảnh trong chuyền, ta phải ép chi tiết vào cữ để cố định tư thế, và chính lực ép đó đôi khi lại làm dịch chuyển giá trị đo.

Điểm rơi thực tế là phân vai như sau. Dung sai kích thước và một phần dung sai hình dạng thì đo toàn bộ ngay trong chuyền, còn dung sai vị trí và độ đồng trục có kèm chuẩn đo thì lấy mẫu đo trên CMM. Nếu không ghi rõ ranh giới này ngay từ khi lập yêu cầu kỹ thuật đặt hàng, thì đến lúc nghiệm thu chắc chắn sẽ xảy ra tranh cãi kiểu “đã nói là kiểm tra toàn bộ cơ mà”.

Cấu trúc chi phí – chỉ nhìn giá thân máy là trật

Các khoản trong chi phí đầu tư ban đầu

Hiểu lầm hay gặp nhất khi lập báo giá cho tự động hóa kiểm tra kích thước là coi giá thân thiết bị chính là ngân sách. Thực tế, càng đưa vào trong chuyền thì các khoản ngoài thiết bị càng phình ra.

  • Thân thiết bị đo. Camera, ống kính, đèn chiếu, bộ điều khiển, hoặc thân máy CMM cùng trọn bộ đầu dò.
  • Vận chuyển và định vị chi tiết. Máng dẫn, bàn chia độ, tay gắp robot, đồ gá định vị. Có bao nhiêu chủng loại thì cần bấy nhiêu bộ đồ gá.
  • Khung máy, vỏ che an toàn và thi công lắp đặt. Nếu dùng thiết bị laser thì còn cần phân vùng an toàn.
  • Chương trình đo và chạy thử điều kiện. Với CMM là lập đường đo, với đo hình ảnh là tạo công thức đo và tinh chỉnh tham số phát hiện cạnh.
  • Kết nối hệ thống cấp trên. Phần tự động gửi giá trị đo sang hệ thống quản lý sản xuất như PEGASUS hoặc MES, rồi tự động tổng hợp Cpk và biểu đồ kiểm soát.
  • Đào tạo và hỗ trợ khởi động. Nhân viên kiểm tra sẽ chuyển vai thành người vận hành thiết bị, nên cắt khoản này thì vận hành sẽ không chạy.

Để có cảm nhận mặt bằng giá, tại Nhật Bản có các hệ thống đo kích thước bằng hình ảnh lưu hành ở dải giá khoảng 980,000 JPY đến 1,890,000 JPY, còn máy đo tọa độ ba chiều thì tùy model trải từ mức vài triệu JPY cho tới quy mô vài chục triệu JPY với loại cổng lớn, độ chính xác cao. Tuy nhiên đây là cảm nhận giá của riêng thiết bị tại thị trường Nhật Bản, không phải giá thực tế ở Thái Lan. Tại Thái Lan còn cộng thêm chi phí nhập khẩu, hệ thống lắp đặt và dịch vụ, số giờ công lập trình tại chỗ, và thời gian giao hàng của phụ tùng thay thế. Đừng chép nguyên báo giá của Nhật Bản vào kế hoạch ngân sách tại Thái Lan.

Những khoản dễ bị bỏ sót

Đồ gá và lập trình có khi chiếm khoảng 30% tổng đầu tư ban đầu. Đặc biệt ở các nhà máy nhiều chủng loại, mỗi chủng loại lại cần một bộ đồ gá và một công thức đo riêng, nên tiền đề “chỉ cần một máy là đo được mọi chủng loại” sẽ sụp đổ. Trước khi đặt hàng, hãy đếm số chủng loại sẽ khởi động trong năm đầu và số chủng loại sẽ bổ sung từ năm thứ hai trở đi.

Một khoản nữa hay bị bỏ sót là chế tạo và quản lý mẫu chuẩn, tức chi tiết dùng làm chuẩn. Muốn kiểm tra tình trạng thiết bị trong công tác kiểm tra hằng ngày thì phải có chi tiết chuẩn đã được hiệu chuẩn kích thước. Hãy tính chi phí trên giả định mỗi chủng loại có một bộ và định kỳ gửi ra ngoài hiệu chuẩn.

Chi phí vận hành hằng năm

Các khoản phát sinh liên tục hằng năm gồm hợp đồng bảo trì, hiệu chuẩn, vật tư tiêu hao, việc thêm và sửa công thức đo, cùng chi phí nhân công của người vận hành. Với đo bằng hình ảnh, suy giảm quang thông của đèn và bụi bẩn trên ống kính đều tác động tới giá trị đo, nên cần lập tác nghiệp chuẩn cho việc vệ sinh và kiểm tra. Với CMM, tiền điện cho điều hòa ổn nhiệt lớn hơn nhiều so với hình dung. Nếu là công đoạn không được phép dừng, cũng nên tính cả chi phí tồn kho phụ tùng dự phòng.

Tự động hóa kiểm tra kích thước 2026 – Chọn phương thức và tính hoàn vốn - figure 3

Tính hoàn vốn đầu tư – mô hình nhà máy gia công kim loại tại Chonburi

Từ đây trở đi ta suy nghĩ bằng con số cụ thể. Tất cả những gì bên dưới là mô hình dựa trên các giá trị giả định, không phải số liệu của một nhà máy có thật. Hãy đọc chúng như một khung tư duy.

Tiền đề của mô hình

Giả định một nhà máy Nhật Bản gia công cắt gọt linh kiện ô tô tại tỉnh Chonburi, Thái Lan.

Hạng mụcGiá trị giả định
Sản lượng năm720,000 chi tiết
Số ngày vận hành240 ngày
Số điểm kích thước cần kiểm tra trên mỗi chi tiết8 điểm
Trong đó số điểm đo được bằng hình ảnh trong chuyền5 điểm
Tỷ lệ lấy mẫu hiện tại1%
Nhân viên kiểm tra4 người
Chi phí nhân công năm cho mỗi nhân viên kiểm tra240,000 THB
Tỷ lệ hàng lỗi lọt sang khách hàng850 ppm
Chi phí xử lý bình quân cho mỗi sản phẩm lỗi lọt ra2,500 THB

Tiền đề là 4 nhân viên kiểm tra không chỉ làm việc đo lấy mẫu kích thước, mà còn gánh toàn bộ công việc phòng đo như kiểm tra đầu vào, xác nhận cuối trước khi xuất hàng, và chứng kiến kiểm tra ngoại quan. Nếu chỉ nhìn riêng phần đo lấy mẫu kích thước thì số lượt đo mỗi ngày trông có vẻ ít, nhưng phòng đo thực tế dùng phần lớn thời gian vận hành cho các nghiệp vụ ngoài kích thước.

Cũng cần bổ sung cách hiểu về chi phí xử lý bình quân cho mỗi sản phẩm lỗi lọt ra. Trên thực tế không phải cứ mỗi lần lọt hàng là lại phát sinh riêng lẻ việc sàng lọc, vận chuyển hàng trả về, báo cáo khắc phục cho khách hàng và cử người sang xử lý. Thông lệ là gom các vụ lọt hàng trong một khoảng thời gian nhất định để xử lý khắc phục chung. Ở đây, con số 2,500 THB được đặt theo nghĩa là tổng chi phí sàng lọc, hàng trả về, báo cáo khắc phục và cử người sang xử lý phát sinh trong một khoảng thời gian, chia đều cho số sản phẩm lỗi đã lọt ra trong khoảng thời gian đó. Xin lưu ý đây không có nghĩa là mỗi vụ lọt hàng đều kéo theo một chuyến công tác. Số tiền này thay đổi rất nhiều theo từng nhà máy nên sẽ được dao động trong phần phân tích độ nhạy phía sau.

Về bối cảnh của ngành sản xuất Thái Lan, có ý kiến chỉ ra rằng chi phí nguyên vật liệu tăng, tuyển dụng nhân sự khó khăn, khách hàng yêu cầu cắt giảm chi phí và tiêu chuẩn chất lượng ngày càng khắt khe đang diễn ra cùng lúc, khiến những chi phí khó nhìn thấy như tổn thất tồn kho, dừng thiết bị, hàng lỗi và làm thêm giờ cứ chồng chất lên nhau. Ngay cả trong quyết định đầu tư cho kiểm tra, việc quy đổi phần khó nhìn thấy này thành tiền, chứ không chỉ nhìn chi phí nhân công đang thấy được, mới là thứ định đoạt kết luận.

Đường cơ sở – chi phí năm ở hiện trạng

Khoản mụcSố tiền nămCăn cứ tính
Chi phí nhân công kiểm tra960,000 THB240,000 THB x 4 người
Chi phí vận hành máy đo hiện có120,000 THBBảo trì và hiệu chuẩn
Chi phí xử lý hàng lỗi lọt ra1,530,000 THB720,000 chi tiết x 850 ppm = 612 chi tiết, x 2,500 THB
Tổn thất do phát hiện bất thường muộn480,000 THB12 lần mỗi năm x 40,000 THB
Tổng cộng3,090,000 THB

Tổn thất do phát hiện bất thường muộn là chi phí sàng lọc và đo lại số bán thành phẩm đã trôi qua trong lúc chờ, do kiểm tra theo lối lấy mẫu nên việc phát hiện bất thường kích thước chậm trung bình 4 giờ. Đối tượng của nó khác với chi phí xử lý hàng lỗi lọt ra nên không bị tính trùng. Lọt ra là “phần đã đến tay khách hàng”, còn phát hiện muộn là “phần đã chặn được trong nội bộ nhưng vẫn phải làm lại”. Tách bạch hai khoản này chính là bí quyết lớn nhất để bảng tính trở nên đáng tin.

Phương án A – tăng thêm CMM ngoài chuyền để nâng tỷ lệ lấy mẫu

Đây là phương án lắp thêm một máy CMM có chức năng đo tự động, cải tạo phòng ổn nhiệt và nâng tỷ lệ lấy mẫu từ 1% lên 4%.

Đầu tư ban đầu gồm thân máy CMM 3,800,000 THB, cải tạo phòng ổn nhiệt 600,000 THB, đồ gá 350,000 THB, lập chương trình đo 400,000 THB và đào tạo 150,000 THB, tổng cộng 5,300,000 THB.

Về chi phí năm, chi phí nhân công kiểm tra giảm còn 720,000 THB do chức năng đo tự động giúp tiết giảm một phần công việc lấy mẫu nên nhân sự từ 4 người xuống 3 người. Chi phí vận hành thiết bị là 550,000 THB, gồm 120,000 THB phần hiện có cộng 430,000 THB phần mới, trong đó bảo trì 280,000 THB, hiệu chuẩn 60,000 THB và tiền điện điều hòa ổn nhiệt 90,000 THB. Hàng lỗi lọt ra cải thiện từ 850 ppm xuống 380 ppm nên còn 684,000 THB. Tổn thất do phát hiện muộn còn 360,000 THB nhờ tần suất lấy mẫu tăng lên. Tổng cộng là 2,314,000 THB.

Mức tiết giảm mỗi năm là 3,090,000 THB trừ 2,314,000 THB, bằng 776,000 THB. Số năm hoàn vốn là 5,300,000 THB chia cho 776,000 THB, tức khoảng 6.8 năm.

Con số này không có nghĩa là đầu tư thêm CMM là dở. Nó có nghĩa là CMM không phải thiết bị được chọn dựa trên số năm hoàn vốn. Khả năng xuất bảng kết quả GD&T, khả năng truy vết chuỗi hiệu chuẩn và khả năng giải trình trong đánh giá của khách hàng là những giá trị khó quy đổi thành tiền. Nói ngược lại, nếu đưa CMM lên tờ trình phê duyệt với tư cách “công cụ cắt giảm chi phí” thì gần như chắc chắn sẽ không được duyệt.

Phương án B – đo kích thước bằng hình ảnh trong chuyền để kiểm tra toàn bộ

Đây là phương án lắp một trạm đo kích thước bằng hình ảnh vào công đoạn sau của chuyền gia công, đo toàn bộ sản phẩm với 5 trong số 8 điểm.

Khoản mục đầu tư ban đầuSố tiềnTỷ trọng
Thân thiết bị đo (camera, ống kính, đèn chiếu, bộ điều khiển)1,600,000 THBkhoảng 41%
Vận chuyển, đồ gá định vị, máng dẫn900,000 THBkhoảng 23%
Khung máy, vỏ che an toàn, lắp đặt350,000 THBkhoảng 9%
Tạo công thức đo và chạy thử điều kiện450,000 THBkhoảng 11%
Kết nối hệ thống quản lý sản xuất (ghi giá trị đo và tự động tổng hợp Cpk)500,000 THBkhoảng 13%
Đào tạo và hỗ trợ khởi động150,000 THBkhoảng 4%
Tổng cộng3,950,000 THB

Chi phí năm như sau.

Khoản mụcSố tiền nămGhi chú
Chi phí nhân công kiểm tra480,000 THBTừ 4 người xuống 2 người. Vẫn giữ xác nhận hàng đầu và chứng kiến lấy mẫu
Chi phí vận hành máy đo hiện có120,000 THBGiữ nguyên hiện trạng
Chi phí vận hành chuyền mới410,000 THBBảo trì 180,000, hiệu chuẩn và kiểm chứng mẫu chuẩn 80,000, bổ sung công thức đo 150,000
Chi phí xử lý hàng lỗi lọt ra216,000 THBCải thiện xuống 120 ppm
Tổn thất do phát hiện bất thường muộn60,000 THBPhát hiện tức thời nhờ giám sát xu hướng trên toàn bộ sản phẩm
Tổng cộng1,286,000 THB

Mức tiết giảm mỗi năm là 3,090,000 THB trừ 1,286,000 THB, bằng 1,804,000 THB. Số năm hoàn vốn là 3,950,000 THB chia cho 1,804,000 THB, tức khoảng 2.2 năm. Người ta thường lấy mốc 2 năm đến 5 năm cho thời gian hoàn vốn của đầu tư tự động hóa kiểm tra, và với những dự án quy mô nhỏ, hiệu quả rõ ràng thì có trường hợp gói gọn trong khoảng 2 năm. Công thức cơ bản của số năm hoàn vốn là lấy đầu tư ban đầu chia cho tổng của chi phí tiết giảm hằng năm và lợi nhuận tăng thêm hằng năm, và bảng tính này cũng tuân theo đúng dạng đó.

Phân tách mức tiết giảm sẽ thấy nó gồm tiết giảm nhân công 480,000 THB, giảm tổn thất do phát hiện muộn 420,000 THB, giảm hàng lỗi lọt ra 1,314,000 THB, rồi trừ đi phần tăng chi phí vận hành 410,000 THB. Nếu chỉ dựa vào nhân công thì phải mất hơn 8 năm mới hoàn vốn, và có thể thấy rõ thứ làm cho khoản đầu tư này khả thi chính là việc giảm hàng lỗi lọt ra.

Kết hợp cả phương án A và B

Ta cũng thử tính phương án làm cả hai, vừa tăng CMM vừa kiểm tra toàn bộ trong chuyền. Cơ cấu nhân sự giữ nguyên 2 người như phương án B đơn lẻ. Phần lớn việc đo toàn bộ do đo hình ảnh trong chuyền đảm nhiệm, còn CMM dùng để xác nhận chuẩn theo lối lấy mẫu và kiểm tra các hạng mục GD&T, nên tiền đề là 2 người này có thể luân phiên kiêm luôn việc vận hành CMM. Đầu tư ban đầu là 9,250,000 THB. Chi phí năm gồm nhân công kiểm tra 480,000 THB, chi phí vận hành 960,000 THB, hàng lỗi lọt ra giảm xuống 70 ppm còn 126,000 THB, tổn thất do phát hiện muộn 60,000 THB, tổng cộng 1,626,000 THB. Mức tiết giảm mỗi năm là 1,464,000 THB, và số năm hoàn vốn khoảng 6.3 năm.

Thời gian hoàn vốn dài hơn so với khi chỉ làm phương án B. Lý do là dư địa giảm hàng lỗi lọt ra đã được phương án B tiêu thụ gần hết, trong khi đầu tư ban đầu và chi phí vận hành của CMM lại cộng thêm vào. Nếu chọn phương án kết hợp thì trên tờ trình phê duyệt phải viết nó như một yêu cầu bảo đảm chất lượng, tức là bảng kết quả đo của CMM là bắt buộc cho đánh giá của khách hàng và cho hồ sơ PPAP, chứ không phải viết theo góc độ số năm hoàn vốn. Cố nhét vào bài toán hoàn vốn thì con số sẽ vỡ.

Độ nhạy – biến số nào có thể lật ngược kết luận

Ta kiểm tra xem giả định nào có tác động lớn tới kết luận, bằng cách lần lượt dao động từng biến số của phương án B.

Điều kiện được dao độngMức tiết giảm nămSố năm hoàn vốn
Trường hợp cơ sở1,804,000 THB2.2 năm
Chi phí xử lý bình quân mỗi sản phẩm lọt ra là 1,200 THB1,121,000 THB3.5 năm
Sản lượng năm là 360,000 chi tiết697,000 THB5.7 năm
Số điểm đo được toàn bộ giảm từ 5 điểm xuống 3 điểm1,480,000 THB2.7 năm
Không giảm nhân sự (chỉ kìm việc tăng người)1,324,000 THB3.0 năm

Xin bổ sung tiền đề của từng trường hợp. Trường hợp “sản lượng năm là 360,000 chi tiết” là một mô hình đơn giản hóa, trong đó ba hiệu quả biến động tỷ lệ với sản lượng, gồm tiết giảm nhân công, giảm tổn thất do phát hiện muộn và giảm hàng lỗi lọt ra, đều bị giảm một nửa, còn phần tăng chi phí vận hành 410,000 THB vốn không phụ thuộc sản lượng thì giữ nguyên. Trên thực tế số nhân viên kiểm tra chỉ điều chỉnh được theo số nguyên nên hiệu quả tiết giảm nhân công không biến động mượt như sản lượng. Đây chỉ là phép tính để cho thấy xu hướng “phần lớn hiệu quả gắn với sản lượng”. Trường hợp “số điểm đo được toàn bộ giảm từ 5 điểm xuống 3 điểm” là con số khi giả định rằng do độ bao phủ các dạng lỗi chặn được bị giảm, biên độ cải thiện hàng lỗi lọt ra chỉ còn từ 850 ppm xuống khoảng 300 ppm thay vì từ 850 ppm xuống 120 ppm.

Có ba điều đọc ra được từ bảng này.

Thứ nhất, hai thứ làm kết luận dịch chuyển mạnh nhất là chi phí xử lý bình quân mỗi sản phẩm lọt ra và sản lượng. Cả hai đều không thuộc về bản chất của khoản đầu tư mà thuộc về điều kiện kinh doanh của chính công ty bạn. Hãy chốt hai con số này trong nội bộ trước khi bắt đầu so sánh thiết bị.

Thứ hai, ngay cả khi số điểm đo được giảm từ 5 điểm xuống 3 điểm thì hoàn vốn vẫn dừng ở 2.7 năm. Phán đoán kiểu “không đo được toàn bộ hạng mục thì làm cũng vô nghĩa” là không đứng vững trên con số. Phần lớn hiệu quả đến từ việc chặn toàn bộ những kích thước quan trọng dễ dẫn tới lọt hàng.

Thứ ba, ngay cả khi không giảm một nhân sự nào thì vẫn hoàn vốn trong 3.0 năm. Tại Thái Lan, việc tuyển nhân viên kiểm tra vẫn đang khó khăn, nên kịch bản thực tế hơn không phải là “giảm người” mà là “không phải tăng người khi tăng sản lượng”. Ở dạng này khoản đầu tư vẫn khả thi.

Một lưu ý nữa là khi xem độ nhạy, không được nhân một hệ số duy nhất lên tất cả các hiệu quả. Ngay cả khi dao động nhiều hiệu quả theo cùng một tỷ lệ như trong trường hợp sản lượng ở trên, vẫn phải kiểm tra từng cái một xem tỷ lệ đó có hợp lý với hiệu quả nào và không hợp lý với hiệu quả nào. Chẳng hạn hạ đơn giá chi phí xử lý thì mức tiết giảm nhân công không đổi, còn chi phí vận hành thì gần như không giảm dù sản lượng còn một nửa. Tách riêng từng hiệu quả để xem nó có phụ thuộc vào biến số đó hay không, đó mới là thứ làm cho phân tích độ nhạy có ý nghĩa.

Các bước kiểm tra lại bằng số liệu của chính bạn

Những con số ở trên là giá trị giả định. Đừng dùng nguyên xi, hãy thay bằng số liệu của công ty bạn theo thứ tự sau.

  • Đếm số vụ lọt hàng sang khách hàng trong 12 tháng gần nhất, chia cho sản lượng để ra PPM.
  • Cộng dồn tổng chi phí năm cho việc sàng lọc, vận chuyển, lập báo cáo và cử người đi xử lý phát sinh kèm theo các vụ lọt hàng, rồi chia cho số sản phẩm đã lọt ra trong kỳ đó để ra chi phí xử lý bình quân mỗi sản phẩm.
  • Thống kê riêng, tách khỏi phần lọt hàng, số vụ phải làm lại khi phát hiện bất thường kích thước trong nội bộ và chi phí mỗi lần.
  • Viết ra số nhân sự kiểm tra hiện có và số nhân sự bổ sung sẽ cần theo kế hoạch tăng sản lượng.
  • Đếm số kích thước cần kiểm tra trên bản vẽ và phân loại thành số điểm đo được trong chuyền và số điểm không đo được.

Điền xong 5 mục này thì chỉ cần đưa báo giá của nhà cung cấp thiết bị vào là ra được số năm hoàn vốn. Ngược lại, nếu lấy báo giá khi 5 mục này còn để trống thì sẽ không có một mặt bằng nào để so sánh.

Những mục cần chốt trước khi đặt hàng

Dưới đây là danh sách kiểm tra những mục cần giải quyết dứt điểm trong nội bộ trước khi gửi yêu cầu báo giá. Nếu lấy báo giá cạnh tranh khi những mục này còn mơ hồ, báo giá của mỗi hãng sẽ được lập trên những tiền đề khác nhau và việc so sánh sẽ không có cơ sở.

  • Chủng loại và kích thước thuộc phạm vi. Với từng mã sản phẩm, lập danh sách tách riêng kích thước đo toàn bộ và kích thước đo lấy mẫu.
  • Yêu cầu độ chính xác. Dung sai của từng kích thước và mức GR&R được yêu cầu. Có được chỉ định mục tiêu Cpk như một yêu cầu riêng của khách hàng hay không.
  • Thời gian nhịp. Thời gian đo cho phép trên mỗi chi tiết, tính ngược từ tốc độ chuyền. Ghi giá trị đã bao gồm thời gian vận chuyển và định vị.
  • Tần suất chuyển đổi chủng loại và giới hạn thời gian chuẩn bị. Chuyển đổi mấy lần mỗi ngày sẽ quyết định cách chế tạo đồ gá.
  • Đích đến của dữ liệu. Giá trị đo sẽ được gửi sang hệ thống nào, ở mức chi tiết nào, vào thời điểm nào. Có lưu giá trị thô của toàn bộ sản phẩm hay chỉ lưu giá trị thống kê.
  • Quy tắc phán định và xử lý. Khi ra NG thì dừng chuyền hay loại bỏ ở công đoạn sau, ai là người quyết định đo lại.
  • Điều kiện môi trường. Biên độ dao động nhiệt độ, rung động, bụi và sương dầu cắt gọt tại vị trí lắp đặt.
  • Hiệu chuẩn và kiểm tra hằng ngày. Chuẩn bị mẫu chuẩn, tần suất kiểm tra, chu kỳ hiệu chuẩn bên ngoài và bên nào chịu chi phí.
  • Hệ thống bảo trì. Có trung tâm dịch vụ trong Thái Lan hay không, thời gian giao hàng của phụ tùng là bao nhiêu ngày, có phương án máy thay thế hay không.
  • Đào tạo và kế hoạch nhân sự. Ai sẽ trở thành người vận hành, ai sẽ được đào tạo để tự thêm công thức đo.

Trong 10 mục này, hai mục gây tranh cãi nhiều nhất trong các dự án thực tế là “đích đến của dữ liệu” và “quy tắc phán định và xử lý”. Thiết bị chỉ lo giúp bạn tới bước đo mà thôi. Khi bắt đầu đo toàn bộ sản phẩm, mỗi ngày sẽ phát sinh từ vài nghìn đến vài chục nghìn giá trị đo, và nếu không có cơ chế tích lũy, tổng hợp rồi trả kết quả về hiện trường thì dữ liệu sẽ nằm chết trong nhật ký của thiết bị. Nếu thiết kế để phía hệ thống quản lý sản xuất tiếp nhận phần này, bạn có thể phát triển thêm các cách dùng như tự động tổng hợp Cpk, hay cảnh báo thay dao khi xu hướng đang tiến gần tới giới hạn quy định.

Câu hỏi thường gặp

Kiểm tra kích thước là gì

Đó là phép kiểm tra đo ra giá trị số thực tế để xác nhận kích thước, hình dạng và vị trí của chi tiết có đúng như chỉ định trên bản vẽ hay không. Nó khác kiểm tra ngoại quan, vốn chỉ phán định có xước hay bẩn hay không, cả về mục đích lẫn thiết bị. Kiểm tra ngoại quan chỉ cần cho ra phán định đạt hay không đạt là đã đủ, còn với kiểm tra kích thước thì chính giá trị đo là sản phẩm đầu ra, làm căn cứ cho việc đánh giá năng lực quá trình và cho tài liệu nộp khách hàng.

Nên chọn máy đo tọa độ ba chiều CMM hay máy đo bằng hình ảnh

Điều đó do hạng mục cần đo và tần suất đo quyết định. Nếu chủ yếu là các hạng mục kiểm tra dung sai GD&T như dung sai vị trí hay độ đồng trục có kèm chuẩn đo, và tần suất lấy mẫu là đủ, thì chọn CMM. Nếu chủ yếu là dung sai kích thước lấy được từ biên dạng chiếu và muốn đo toàn bộ sản phẩm với nhịp ngắn, thì chọn đo bằng hình ảnh trong chuyền. Ở phần lớn nhà máy, đây không phải lựa chọn một trong hai mà là dùng kết hợp, với phân vai là đo hình ảnh trong chuyền nắm xu hướng của toàn bộ sản phẩm, còn CMM đưa ra chuẩn và bảng kết quả. Ngay trong bảng tính của bài này, phương án kết hợp cũng không giải thích được bằng số năm hoàn vốn mà phải lập tờ trình theo hướng yêu cầu bảo đảm chất lượng.

Chi phí khoảng bao nhiêu

Tại Nhật Bản có các hệ thống đo kích thước bằng hình ảnh ở dải giá khoảng 980,000 JPY đến 1,890,000 JPY, còn máy đo tọa độ ba chiều trải từ mức vài triệu JPY cho tới quy mô vài chục triệu JPY với máy cỡ lớn. Tuy nhiên đó là giá của riêng thiết bị tại thị trường Nhật Bản. Khi khởi động một hệ thống kiểm tra trong chuyền tại Thái Lan, phải tính theo tổng chi phí bao gồm đồ gá vận chuyển, lắp đặt, tạo công thức đo, kết nối hệ thống và đào tạo. Trong mô hình của bài này, con số đó là 3,950,000 THB. Hãy nhớ rằng cơ cấu thường gặp là thân thiết bị chỉ chiếm khoảng 40% tổng chi phí, còn khoảng 60% còn lại nằm ngoài thiết bị.

Tự động hóa kiểm tra toàn bộ sản phẩm có thật sự khả thi không

Với một phần các kích thước thì khả thi. Nếu là dung sai kích thước lấy được từ biên dạng chiếu, việc đo toàn bộ sản phẩm trong vài giây mỗi chi tiết bằng đo hình ảnh trong chuyền là hiện thực. Mặt khác, yêu cầu “đo toàn bộ mọi hạng mục trên bản vẽ”, bao gồm cả kích thước bên trong lỗ sâu và dung sai hình học có kèm chuẩn đo, thì ở thời điểm hiện tại là phi thực tế. Trong thực hành, lời giải tiêu chuẩn là mô hình lai, chặn toàn bộ các kích thước quan trọng và bảo đảm phần còn lại bằng lấy mẫu. Ngay trong phân tích độ nhạy của bài này, dù số điểm đo được toàn bộ giảm từ 5 điểm xuống 3 điểm thì số năm hoàn vốn vẫn dừng ở 2.7 năm.

Đưa kiểm tra trong chuyền vào thì có còn cần nhân viên kiểm tra không

Vẫn cần. Vai trò của họ thay đổi. Sẽ cần người vận hành thiết bị đo, người thêm và hiệu chỉnh công thức đo, người kiểm tra hằng ngày và kiểm chứng mẫu chuẩn, và người đọc dữ liệu do thiết bị tạo ra để ra tay can thiệp vào quá trình. Tại Thái Lan, tuyển nhân viên kiểm tra ngày càng khó, nên kế hoạch không phải tăng người khi tăng sản lượng thường sát thực tế hơn là kế hoạch giảm người.

Nên đặt mục tiêu năng lực quá trình Cpk ở mức nào

Hãy xác nhận trong tài liệu yêu cầu của khách hàng. IATF 16949 yêu cầu đánh giá tính ổn định và năng lực của quá trình bằng SPC, nhưng mức số cụ thể của Cpk không phải chuẩn thống nhất trong văn bản tiêu chuẩn, mà thực tế là được chỉ định riêng trong yêu cầu riêng của khách hàng hoặc sổ tay chất lượng nhà cung cấp. Trong giao dịch linh kiện ô tô, khách hàng thường yêu cầu Cpk từ 1.67 trở lên như một yêu cầu riêng, và mức này tương ứng với biên độ dự phòng bằng 5 lần độ lệch chuẩn. Trước hết hãy kiểm tra xem tài liệu yêu cầu mà công ty bạn đang nhận viết gì.

Giá trị đo của kiểm tra trong chuyền có dùng được cho cải tiến quá trình không

Dùng được, và đó mới thật sự là mục tiêu chính. Khi nhìn giá trị đo của toàn bộ sản phẩm theo chuỗi thời gian, sẽ hiện ra những cấu trúc mà lấy mẫu không thấy được, chẳng hạn kích thước trôi theo một chiều do mòn dao, đoạn khởi động ngay sau khi chuyển đổi cài đặt, hay dao động trong ngày theo biến thiên nhiệt độ. Khi bạn có thể thay dao hoặc bù trừ trước lúc chạm giới hạn quy định, bản thân hàng lỗi sẽ giảm. Nếu tập trung giá trị đo về hệ thống quản lý sản xuất, các việc như tự động tổng hợp Cpk hay so sánh xu hướng theo từng mã sản phẩm cũng lọt ngay vào tầm với.

Tổng kết

Dưới đây là những điểm chính đã được sắp xếp trong bài, nhằm đưa việc tự động hóa kiểm tra kích thước đi tới quyết định đặt hàng.

  • Kiểm tra kích thước là chuyện khác với phán định đạt/không đạt về ngoại quan, vì chính giá trị đo mới là sản phẩm đầu ra. Cách nghĩ khi chọn thiết bị vì thế cũng khác.
  • Phân loại các chỉ định trên bản vẽ thành ba nhóm gồm dung sai kích thước, dung sai hình dạng và dung sai có kèm chuẩn đo chính là điểm xuất phát của việc định nghĩa yêu cầu.
  • Đo bằng hình ảnh trong chuyền mạnh về kiểm tra toàn bộ và tốc độ, còn CMM mạnh về bề rộng hạng mục đo được và tính thuyết phục. Phần lớn nhà máy sẽ dừng lại ở phương án dùng kết hợp.
  • Yêu cầu độ chính xác phải được xác nhận bằng GR&R chứ không phải bằng độ phân giải ghi trên catalog. Mức số của Cpk do yêu cầu riêng của khách hàng quyết định, không phải do văn bản tiêu chuẩn.
  • Chỉ nhìn giá thân thiết bị là trật. Trong mô hình mẫu, thân thiết bị chỉ chiếm khoảng 40% tổng chi phí, còn đồ gá, lắp đặt, công thức đo, kết nối hệ thống và đào tạo chiếm khoảng 60%.
  • Trong bảng tính của phương án B, thời gian hoàn vốn dịch chuyển từ 2.2 năm tới 5.7 năm tùy giả định. Thứ tạo ra hiệu quả không phải chi phí nhân công mà là việc giảm hàng lỗi lọt ra, nên con đường ngắn nhất là chốt trước PPM lọt hàng và chi phí xử lý của chính công ty bạn.

Trước khi đi thu thập các bảng so sánh thiết bị, hãy bắt đầu từ việc đếm số vụ lọt hàng, chi phí xử lý và số điểm kiểm tra trên bản vẽ của chính công ty bạn. Có ba thứ này trong tay thì chất lượng cuộc trao đổi với nhà cung cấp sẽ khác hẳn một bậc.

Nếu bạn muốn cùng chúng tôi sắp xếp, trên chính bản vẽ và sản lượng của công ty mình, xem kích thước nào nên chặn toàn bộ và nên phân vai giữa trong chuyền với ngoài chuyền ra sao, hãy liên hệ qua biểu mẫu liên hệ của TOMAS TECH để trao đổi. Chúng tôi hoan nghênh cả những trao đổi ở giai đoạn còn cân nhắc chưa quyết định triển khai, hoặc chỉ để kiểm tra tính hợp lý của bảng tính dùng cho tờ trình nội bộ. Chúng tôi trả lời dựa trên kinh nghiệm thiết kế trọn gói việc tự động hóa kiểm tra kích thước cùng với kết nối dữ liệu vào hệ thống quản lý sản xuất tại các nhà máy ở Thái Lan.

Thông tin tham khảo